TRƯỜNG THPT VINH XUÂN

Dịch ngôn ngữ khác

Xem phiên bản mới


TÌM HIỂU

Tìm hiểu lịch sử

Tìm hiểu về Đảng

TÌM HIỂU VỀ BÁC HỒ










BÁC HỒ VỚI HUẾ

Điều tra ý kiến

Bác Hồ sống và học tập ở Thừa Thiên Huế trong thời gian nào ?
1890 - 1895
1895 - 1901
1901 - 1906
1906 - 1909
1895 - 1901 & 1906 - 1909

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Online

    0 khách và 0 thành viên
    Gốc > Cuộc đời và sự nghiệp > Hình tượng Bác Hồ trong thơ văn >

    Hình tượng Bác Hồ trong thơ Lê Đạt

    ledat3001. Bài thơ này tác giả viết ngay vào năm Bác mất (1969) trong tâm thế một nhà thơ trong nhóm Nhân văn giai phẩm đang bị kỷ luật, không được công bố tác phẩm. Dẫu vậy, trước mất mát to lớn của toàn dân, nỗi đau riêng trở thành vô nghĩa. Ông viết hoàn toàn theo cảm xúc của mình với lòng thương tiếc, kính yêu lãnh tụ trong sáng và không thể biết đến khi nào mới được in ra? May mắn cho ông, những bạn thơ thân gần vẫn đọc được và chuyền tay nhau đọc. Bản trường ca này suốt 21 năm âm thầm trong bóng tối như vậy, cho đến khi có cuộc đổi mới trong văn học, người bạn tri âm, tri kỷ - nhà thơ Khương Hữu Dụng mới giới thiệu cho Nhà xuất bản Thanh Niên để cho ra mắt độc giả.

    Quả nhiên, tác phẩm đã đứng được trước thử thách của thời gian, được tái bản nhiều lần...

    Công phu và sáng tạo lớn của tác giả có lẽ là ông đã tìm được một hình thức thơ kiệm lời nhất mà có sức hàm chứa lớn. Cho nên dẫu đã nhiều người viết về Bác, Lê Đạt vẫn có những phát hiện mới, nhận thức mới. Hoặc có những điều không mới nhưng bằng cách nói mới mẻ, hàm súc, vẫn cho người đọc những khoái cảm nghệ thuật.

    Hôm Bác mất, trời mưa tầm tã. Nhiều người làm thơ nói mưa cũng khóc Bác, mưa đưa tiễn Bác. Lê Đạt thì tạo hình trận mưa đó bằng cách xếp những dòng chữ:                            

    Dòng dòng

    cờ

    bước núi

    bước sông

    bước Đồng Tháp

    bước Trường Sơn

    chống gậy

    dòng

    dòng

    mưa

    đưa

    Bác

    Đâu phải chỉ là vấn đề hình thức, qua sự khái quát hình tượng, ta thấy được đội hình cả nước đội mưa tiễn Bác dưới dòng cờ đỏ. Chính Lê Đạt đã học tác phong của Bác để viết về Bác:

    Chớ viết dài

    (Người ưa ngắn gọn)

    Cho nên theo Lê Đạt, nếu có một Đại toàn thư lịch sử thì ở mục Hồ Chí Minh:

    Chỉ cần ghi

    Hai chữ

    Bác Hồ

    Nhà thơ Lê Đạt rất coi trọng chữ trong thơ, theo ông, mỗi chữ phải có hóa trị riêng khiến khi ghép với chữ khác sẽ xảy ra phản ứng như phản ứng hóa học vậy. Ông trọng chữ, nhưng không vì thế mà bỏ nghĩa. Bằng cách ghép chữ, nhưng phải tạo được ra nghĩa mới, đúng hơn: những ấn tượng mới, những hiệu quả mới!

    Viết về hiện tượng mỗi lần xuân đến, Bác Hồ đều có thơ chúc Tết toàn dân, Lê Đạt viết:                                        

    Bác vẫn

    hô xuân

    Bác vẫn

    hô quân

    “Nam Bắc

    thi đua đánh giặc Mỹ”

    “Xuân” (thời gian) ở đây cũng trở thành “quân” trong tay vị tướng tài biết huy động tổng lực để chiến thắng. Từ sự điệp âm “xuân”, “quân” ấy, nhà thơ ghép lại chữ, tạo ra nghĩa mới trên những từ quen thuộc "Đoàn vệ xuân", "đoàn giải phóng xuân", "đoàn đoàn dân xuân". Cho đến hôm nay, ta có “quả xuân”, ta nhớ người “trồng xuân”. Tiếp tục con đường Bác Hồ dẫn dắt, chúng ta đang “trùng trùng xuân”:

    điệp núi

    điệp sông

    Và tác giả kết thúc trường ca bằng câu:

    Điệp điệp

    Bác

    đi

    xuân...

    Để có được sự chắt lọc ấy, ta hãy nghe nhà thơ Khương Hữu Dụng miêu tả khung cảnh sáng tác của Lê Đạt: "Giữa đống báo chí trong và ngoài nước, bản tin, hồi ký, sách chính trị, thơ Bác, ảnh chụp lễ tang Bác... phủ kín sàn gác xép, Lê Đạt gò lưng trước một bàn văn đâu như tiền kiếp là một cái hòm đựng sữa hộp, viết nhiều, xoá nhiều hơn viết, như một người thợ vụng...". 

    ( Nguồn Trường ca về Bác của nhà thơ Lê Đạt - Tác giả Vân Long)

    ------------

    2. Có một trường ca về Hồ Chí Minh của nhà thơ Lê Đạt, mang tên Bác - trường ca; viết năm 1970 - nhân ngày giỗ đầu của Bác; Nhà xuất bản Thanh niên ấn hành năm 1990 - nhân ngày thế giới kỷ niệm 100 năm sinh Danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh (1). Vậy là phải 20 năm sau khi được viết, trường ca mới đến được với bạn đọc rộng rãi.... Lý do vì sao có sự kín tiếng và im lặng lâu như thế - những 20 năm, không nói chắc mọi người đều rõ. Điều quan trọng là, từ giữa những năm 80 (thế kỷ XX), 30 năm sau khi xẩy ra sự kiện Nhân văn - Giai phẩm, cái tên Lê Đạt (chứ không phải là Đào Công Đạt) đã có thể xuất hiện trở lại; và thời điểm 1990 quả là thuận nhất, thích hợp nhất cho việc công bố một trường ca về Bác; và với nó, dẫu 20 năm đã qua, nhưng vẫn là không muộn (đối với dân tộc ta, và các nhà thơ ta, có lẽ viết về Bác, không lúc nào là muộn) để, Lê Đạt được góp phần chia sẻ nỗi đau lớn cùng với niềm tin lớn của toàn dân tộc trong và sau ngày Bác qua đời...

    Có điều cần nói thêm - năm 1970, trong khó khăn chung của đất nước, đó cũng là những năm gian khổ, vất vả nhất của Lê Đạt.                                 

    Những ai đã quen, đã đọc Lê Đạt hơn 30 năm về trước (kể từ thời điểm 90) vẫn dễ dàng nhận ra nhà thơ trong sự chú tâm kiếm tìm những cách thức thể hiện, sao cho mới lạ, để khác người. Và là khác từ hình thức trở đi. Và nói hình thức trong quan hệ với nội dung, như cách chúng ta hiểu xưa nay - thì đó là câu và chữ; là cách ngắt dòng, cách liên kết các ý; là cách dùng hình ảnh và biểu tượng nhằm gợi một lô gích riêng - cái lô gích đối với người đọc bình thường chắc gây nhiều ngạc nhiên hơn là dễ hiểu. Tóm lại một kiểu thơ, theo lối leo thang, Lê Đạt quen sử dụng trong các bài và tập thơ trước đây, gần như đã định hình từ hơn 30 năm trước mà làm nên một dòng chảy âm thầm của nó - đòng thơ Lê Đạt.

    Mở đầu Trường ca Bác là 2 câu, 6 dòng:

    Mở rằm

    nhớ

    một ông trăng

    Cái đèn

    băng đen

    tháng Tám

    Ta nhớ ngày mất của Bác - 2 tháng 9 là vào dịp Tết Trung thu...

    Tiếp đó là sự trực tả nỗi đau chung của nhân dân và lịch sử trong một cái tang lớn:

    Thuở long lanh

    Nước

    nức

    nở

    Ba Đình

    Sử mở

    trắng tang

    trang

    Ta gọi

    Việt Nam

    Ta khóc

    Bác

    "Các cháu bây giờ cháu của ai?"

    Và đoạn kết là cả một chùm dài, chỉ một chữ Xuân bao trùm, gồm những:

    Đoàn Vệ xuân/Đoàn Giải phóng xuân/Đoàn du kích xuân/ Đoàn bạch đầu xuân/ Đoàn xung phong xuân/ Đoàn vận tải xuân.

    Trai xuân gái xuân/Đoàn đoàn dân xuân

    Bác/vẫn/hô xuân

    Cả nước/xuân/xuân/xuân

    Tiến quân/tiếng xuân

    Việt Nam/mới xuân/mở xuân/sáng xuân

    Quả xuân/nhớ người/trồng xuân

    Ta đi/trồng xuân

    Trùng trùng xuân/điệp núi/điệp sông/điệp Đồng Tháp/điệp Trường Sơn

    Và câu cuối cùng:

    Điệp điệp

    BáC

    đi

    Xuân...

    Cả bản trường ca gồm 626 dòng, theo lối thơ leo thang, mỗi dòng gồm từ 1, 2 đến 3, 4 chữ; thỉnh thoảng mới có dòng dài hơn, thường là một số trích dẫn lời Bác, hoặc lời thế giới viếng Bác (2)...

    Vậy là nếu bắt đầu từ câu và chữ, thì ấn tượng để lại - đó là đoạn mở đầu, với băng đen, Nước, nức nở, trắng tang, lời gọi, tiếng khóc, một cảm xúc bơ vơ trong rời rạc, đứt nối của tiếc thương... Và phần kết là điệp điệp những hình xuân, ý xuân, kết nối với nhau như cả một chiến lũy xuân...

    Đọc Lê Đạt, khó lòng đưa lô gích của ta để hiểu thơ ông. Cũng chẳng nên nhọc lòng đi tìm một lôgích thông thường trong thơ ông. Mà hãy thả lỏng mình để tìm đến những mảng khối của hìnhý, sau câuchữ. Điều quan trọng là sau chữ - những chữ lạ, sau câu - những cấu trúc lạ vẫn có sự khuôn lại được những hình - của đời, và những ý - của người. Tất nhiên, sau hìnhý, đó là tình. Và với Trường ca Bác, đó là cái tình của Bác với nhân dân, và của nhân dân với Bác, trong đó có nhà thơ - Dẫu có muộn một chút, sau 20 năm; nhưng qua trường ca được viết vào ngày gĩô đầu của Bác, ta vẫn nhận ra, trong trùng điệp những người khóc và đưa tiễn Bác vào 9 giờ sáng ngày 9 tháng 9 - 1969 trên Quảng trường Ba Đình lịch sử có một Lê Đạt lặng lẽ, và có chút lủi thủi, trải được lòng mình để hòa quyện và góp phần làm nên sự sống và sức sống chung của dân tộc sau một mất mát lớn.

    Đọc Trường ca Bác tôi thường chú tâm đi tìm những hình khối trong liên kết của những ý tưởng ngỡ như cách rất xa nhau:

    Mây trắng đền Hùng/ Râu Bác ung dung

    Suối Lênin/ núi Mác

    Nắm đất nhỏ biên thuỳ/Bác lặn lội/nhân lên/ thành Nước/đón/Người về

    Một cách ngợi ca riêng:

    Từ gốc thật/lòng mình

    Nhân loại/tâm tặng/Người

    Huân chương/không huân chương nào/ so sánh được

    Mục/Hồ CHí MINH/tập Đại Toàn thư lịch sử

    Chỉ cần ghi/hai chữ/BáC Hồ

    Một đúc kết về Hồ Chí Minh bằng chính lời Hồ Chí Minh.

    Qua thế kỷ đảo điên/Bác điềm nhiên - Sự thật

    Qua hằn thù đâm giết nhau/Bác quyết liệt- nhân từ

    Qua chia rẽ/Bác không mỏi/mệt

    "Đoàn kết... Đoàn kết... Đại đoàn kết

    Thành công - Thành công - Đại thành công".

    ...

    Thấu hiểu/hơn ai

    Những dối lừa/

    những xấu sai/ nhân loại...

    Cho đến cuối đời/ Bác vẫn

    nguyên hồn nhiên - từng trải/

    chắt chiu/Người tốt/Việc tốt

    "Vì lợi ích mười năm/... trồng cây

    Vì lợi ích trăm năm/... trồng người

    Có rất nhiều những khối hình như thế, để đưa ta đến với chân dung Hồ Chí Minh, trong từng nét riêng hoặc trong một chỉnh thể, qua rất nhiều cân nhắc của câu và chữ:

    Bác thường trực tương lai/ cửa lúc nào cũng mở

    Những kẻ lạc đường/những người lỡ chậm.

    Lửa/nhà sàn đầm ấm /Bác/chờ

    ...

    Bác để lại/cho ta

    Một canh cánh thiết tha/thống nhất

    Một quyết tâm "to đẹp/đàng hoàng"

    Bác để lại/cho ta/bốn biển/sâu xa/tình đồng chí

    Bác để lại/cho ta/ tất cả/Bác Hồ.

    Sau cái chết là sự sống - đó là lẽ biến hóa và trường tồn của vạn vật. Nhưng với cái chết của Bác Hồ – thì đó là một sự sống sinh sôi, đến thành trùng điệp:

    Cái chết/mở/sinh/nhân/chồi

    Xuân chín ồi ồi/gọi nở/gọi mở/ gọi trổ

    Đồng đồng đông lúa/ Đồng đồng đông nụ/Vườn vườn đông vụ/ Trường trường đông chữ

    Máy nổ... máy rộ/Hàng hàng đông cửa/Hàng hàng đông phố/Nồi nồi đông lửa/ Nhà nhà đông bữa

    Cả nước nghe rất rõ:

    "Người người thi đua/Ngành ngành thi đua/Ngày ngày thi đua".

    Trường ca Bác 626 dòng; nhiều dòng đặt trong ngoặc đơn; nhiều dòng đặt trong ngoặc kép; một số đoạn trích Trường ca Lênin của Maiacopxki (người viết Trường ca Bác quả rất mê Ma-a)... Hiểu được cách thức và mục đích tìm tòi của Lê Đạt, ta sẽ thấy sau chữ và câu, hình và ý, là sự bao trùm của một tình cảm lớn: Tình Bác - Bác đối với Dân và Dân đối với Bác, mà Lê Đạt đã gắng công thể hiện, để có một giọng riêng, trong một lịch sử hơn hai phần ba thế kỷ thơ viết về Bác Hồ.

    Nhà thơ cao niên Khương Hữu Dụng (1907-2001) đã có Lời bạt cho trường ca này. Già Khương đã dầy công phân tích cái hay của trường ca về phương diện thi pháp - với kiểu cắt dán (montage) của điện ảnh, và hệ pháp đa nghĩa (système polysémique) của thơ phương Tây; và kể rằng, trong suốt 20 năm, kể từ khi trường ca được viết ra, cho đến khi ấn hành, cụ luôn luôn có nhu cầu đọc đi đọc lại; bởi "bài thơ như một tòa tháp nhiều tầng, nhiều hành lang... lúc nào ta cũng có thể tìm thấy một thú vị bất ngờ ở một góc nào đó chưa tới". Đọc bài của chị Đào Phương Liên viết về bố Lê Đạt (tức Đào Công Đạt) ngay sau ngày bố mất (21-4-2008) đăng trên Tuổi trẻ cuối tuần (12-4-2009): Bố ơi, những câu chuyện của con... ta biết mối tình thân giữa Già Khương và Lê Đạt; và ta hiểu sự tri kỷ, tri âm giữa hai người có cùng một khát vọng đi tìm và khảo sâu vào các vỉa, tầng của chữ; của từng chữ một với biết bao là nghĩa, để không bao giờ dùng phải chữ mòn và làm cho mòn chữ. Chuyện đó ở phương Tây là chuyện thường. Đã có một trường phái, với các thủ lĩnh là những nhà bác học, hoặc nhà thơ lớn xây dựng nên cái lý thuyết chủ trương chỉ được xem là nhà văn, những người có dụng công trau chuốt ngôn từ, chú ý tạo ra văn phong và làm nên một ngôn ngữ riêng của mình, khác với những người viết thông thường coi chữ viết chỉ là phương tiện diễn đạt các hành vi, ý tưởng. Thì đây, Già Khương - tác giả câu thơ tuyệt diệu Một tiếng chim kêu sáng cả rừng, người có một cuộc đời hoạt động rất phong phú và rất đáng kính trọng trên rất nhiều lĩnh vực suốt gần một thế kỷ, thế mà cái ước vọng cao nhất của cụ lại chỉ là:

    ... trọn đời khi nhắm mắt

    Được câu thần cú đủ vui rồi

    Và, người xứng đáng kế tiếp là Lê Đạt, vào những năm trở lại nghiệp thơ, sau 30 năm gián đoạn, sẽ là người cho in cả một tập thơ có tên Bóng chữ (1995); và lại đã có thêm một tập tiểu luận chờ in: Đường chữ. May mắn có trong tay Trường ca Bác, in năm 1990, tôi sung sướng nhận rõ một chân dung Lê Đạt, người định hình và kết nối thành một phu chữ, trong mọi thể hiện của ngôn từ về bất cứ đề tài gì. Nhưng là một trường ca về Bác, nên chữ, câu, cùng với hình, ý dường như cùng hội sức để đến với một trường cảm xúc bao trùm - đó là lòng yêu kính và ngưỡng mộ Hồ Chí Minh.

    Trong bài viết trên của chị Đào Phương Liên có đoạn nhớ lại ngày 3-9 năm 1969, nhà trường hoãn khai giảng; chị hỏi bố thì được biết vì "Ông mất" - trong nghẹn ngào, rơm rớm nước mắt bố còn nói với chị, đó là "Ông của cả nước"; do vậy mà "Bố, mẹ để tang ông".

    Có lẽ Trường ca Bác được bắt đầu từ đấy.

    Với bài thơ này, tôi hiểu thêm Lê Đạt.

    Và càng hiểu sâu thêm Hồ Chí Minh.

    --------------

    Thái Hà 15-16/4/2009

    ( Nguồn : Lê Đạt đã từng viết trường ca về Hồ Chí Minh - Tác giả Phong Lê )


    Nhắn tin cho tác giả
    Hoàng Nhật Minh @ 13:30 23/08/2010
    Số lượt xem: 1267
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Cảm ơn quý vị và các bạn đã đến với website "Bác Hồ với Huế"
    www.bachovoihue.tk