TRƯỜNG THPT VINH XUÂN

Dịch ngôn ngữ khác

Xem phiên bản mới


TÌM HIỂU

Tìm hiểu lịch sử

Tìm hiểu về Đảng

Huế xưa và nay

TÌM HIỂU VỀ BÁC HỒ










BÁC HỒ VỚI HUẾ

Điều tra ý kiến

Bác Hồ sống và học tập ở Thừa Thiên Huế trong thời gian nào ?
1890 - 1895
1895 - 1901
1901 - 1906
1906 - 1909
1895 - 1901 & 1906 - 1909

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Online

    1 khách và 0 thành viên

    Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc người Cha kính yêu của Chủ tịch Hồ Chí Minh

    Nhấn vào đây để tải về
    Hiển thị toàn màn hình
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Hoàng Nhật Minh (trang riêng)
    Ngày gửi: 10h:26' 23-11-2013
    Dung lượng: 49.5 KB
    Số lượt tải: 11
    Số lượt thích: 0 người
    CỤ PHÓ BẢNG NGUYỄN SINH SẮC
    NGƯỜI CHA KINH YÊU CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH


    Lê Thị Thanh Hương
    Bảo tàng Hồ Chí Minh Chi nhánh Thừa Thiên Huế

    Trong cuốn tiểu sử tóm tắt về cuộc đời hoạt động của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc mang tên “Thân thế sự nghiệp của nhà cáh mạng Nguyễn ái Quốc” của tác giả Việt Nam xuất bản năm 1946 có đoạn viết: “Ông cụ thân sinh ra ông (tức Nguyễn Ái Quốc) là một nhà nho đã đỗ Phó Bảng và đã làm tri huyện. Nhưng chẳng phải là một nhà nho hủ lậu, cố chấp. Là một nhà nho có tư tưởng, có tâm huyết, đã vì cái tư cách tự lập tự cường, và vì đã ngấm ngầm tham dự vào cuộc khởi nghĩa Cần Vương của Đảng Văn thân mà bị cách chức. Nhà nho ấy đã căn cứ vào tình hình thực tế trong nước hồi ấy mà làm nên một cuộc cách mạng trong làng nho”
    Nhà nho ấy chính là cụ Nguyễn Sinh Sắc - thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu. Người mà tư tưởng, nhân cách và đạo đức của mình đã ảnh hưởng trực tiếp đến tư tưởng yêu dân và ý chí cứu nước của Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh.
    Cuộc đời và sự nghiệp
    Ông sinh ra trong một gia đình nông dân tại làng Kim Liên (Nghệ An). Từ nhỏ đã mồ côi cả cha lẫn mẹ, phải sống nhờ vào sự nuôi dưỡng của người anh cùng cha khác mẹ, phải chịu nhiều vất vả, thiệt thòi. Ông đã có ý chí tự lập thân từ rất sớm. Mặc dù không có điều kiện đến trường, ông vẫn tự tìm mọi cách tự học để trở thành nho sĩ là tầng lớp đang được xã hội đương thời trọng dụng . Quý mến đức tính cần cù, chịu khó và chí thông minh, ham học của ông, cụ đồ Hoàng Xuân Đường ở làng Hoàng Trù đưa ông về nuôi, cho ăn học. Rồi gạt bỏ mọi quan niệm phong kiến thời bấy giờ, cụ đã gả con gái lớn là Hoàng thị Loan cho ông.
    Từ 1894 đến 1901 được sự giúp đỡ của gia đình cha mẹ vợ, đặc biệt là sự đồng lòng chung sức của người vợ hiền tần tảo và thủy chung. Với ý chí và nghị lực phi thường, vượt qua khó khăn vất vả của cuộc sống đời thường, nén nỗi đau thương khi người vợ hiền không còn nữa, vừa làm vừa học, kiên trì dùi mài kinh sử. Cuối cùng ông đã thành danh: Đậu Cử nhân tại trường thí Hương Nghệ An năm giáp ngọ 1894, và đậu Phó Bảng tại khoa thi Hội năm Tân sửu 1901. Đỗ đạt vinh quy về quê, theo tiền lệ xã Chung Cự quê ông đã trích 200 quan tiền quỹ nghĩa thương và ruộng thánh để ông làm cỗ khao. Nhưng là người có lòng nhân ái thương dân, thông cảm với nỗi khốn khó của người dân lao động nghèo quê ông, ông chỉ nhận 10 quan để mời trầu nước bà con đến chia vui với gia đình, số còn lại ông đem chia cho những người nghèo làm vốn sinh nhai.
    Năm năm ở lại quê nhà (1901 - 1906) vừa tìm hiểu tình hình thế sự (ông đưa Nguyễn Sinh Khiêm và Nguyễn Sinh Cung ra tận Kiến Xương, Thái Bình gặp một số sĩ phu yêu nước của phong trào Đông kinh nghĩa thục) và tham gia bàn luận việc nước với những sĩ phu yêu nước nhưng chưa tìm ra con đường cứu nước đúng đắn. Năm 1906 ông trở lại kinh đô Huế nhận chức Thừa biện Bộ Lễ trông coi việc học ở Quốc Tử Giám.
    Từ khi đỗ Phó Bẳng cho đến khi làm quan Thừa biện Bộ Lễ, sống trong làng quan tại khu “Thuộc viên” trước cổng thành Đông Ba, ông vẫn dạy các con mình nếp sống thanh bạch giản dị “đừng lấy nếp sông nhà quan làm nếp sống nhà ta”, phải chăm lo lao động và bền chí học hành. Đặc biệt, không giống như một số nhà nho bảo thủ không cho con cháu đi học chữ quốc ngữ và chữ Pháp vì cho đó là chữ của giặc, Cụ hướng cho các con trai mình vào học trường của Pháp với ý nghĩ rất thức thời: Muốn đánh Pháp phải hiểu Pháp, muốn hiểu Pháp phải học chữ Pháp”.
    Thời gian làm quan tại triều đình Huế, trực tiếp sống trong cảnh quan trường dưới chế độ thực dân. Chứng kiến cảnh vị vua yêu nước Thành Thái bị Pháp phế truất vì đã có hành động chống Pháp, ông cay đắng nhận ra rằng: Quan trường thị nô lệ, trung chi nô lệ hựu nô lệ (Quan trường là nô lệ trong đám nguời nô lệ, càng nô lệ hơn). Từ đó Cụ thay đổi quan niệm về thuyết trung quân của nhà nho. Theo Cụ lúc này, ái quốc là yêu nước, nước là dân. Vậy ái quốc có nghĩa là ái dân, lấy dân làm hậu thuẫn cho mọi phong trào cải cách. Cụ thường đem thuyết đó giác ngộ bạn bè và thanh niên
     
    Gửi ý kiến

    Cảm ơn quý vị và các bạn đã đến với website "Bác Hồ với Huế"
    www.bachovoihue.tk