TRƯỜNG THPT VINH XUÂN

Dịch ngôn ngữ khác

Xem phiên bản mới


TÌM HIỂU

Tìm hiểu lịch sử

Tìm hiểu về Đảng

Huế xưa và nay

TÌM HIỂU VỀ BÁC HỒ










BÁC HỒ VỚI HUẾ

Điều tra ý kiến

Bác Hồ sống và học tập ở Thừa Thiên Huế trong thời gian nào ?
1890 - 1895
1895 - 1901
1901 - 1906
1906 - 1909
1895 - 1901 & 1906 - 1909

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Online

    0 khách và 0 thành viên

    Hồ Chí Minh chấm dứt sự khủng hoảng đường lối cứu nước của Việt Nam

    Nhấn vào đây để tải về
    Hiển thị toàn màn hình
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: Hoàng Ngọc Vĩnh - ĐHKH Huế
    Người gửi: Hoàng Nhật Minh (trang riêng)
    Ngày gửi: 17h:40' 17-04-2011
    Dung lượng: 15.6 KB
    Số lượt tải: 10
    Số lượt thích: 0 người
    CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH,
    NGƯỜI ĐẦU TIÊN CHẤM DỨT TÌNH TRẠNG KHỦNG HOẢNG
    ĐƯỜNG LỐI CỨU NƯỚC KÉO DÀI GẦN 100 NĂM CỦA VIỆT NAM
    1. Vua Gia Long là người đầu tiên đã thống nhất Việt Nam sau hơn 2000 năm bị chia cắt. Đề cao Nho giáo lên địa vị độc tôn, nhưng Gia Long (1802 - 1820), Minh Mạng (1820 - 1840), Thiệu Trị (1841 - 1847) đều là những người biết giương cao ngọn cờ Phật giáo để thu phục nhân tâm với ý thức dân tộc cao, dù chưa được lòng dân thì độc lập nước ta vẫn được giữ vững. Vua Tự Đức (1848 - 1882) là người không thích làm vua chỉ thích làm thơ, sao nhãng việc nước, lại thi hành những chính sách không phù hợp với tình thế làm cho đời sống của nhân dân, trước hết là nông dân trở nên rất cơ cực. Mâu thuẫn giữa nhân dân với bọn vua quan nhà Nguyễn trở nên hết sức gay gắt. Đất nước Việt Nam vì thế đã nhanh chóng bị thực dân Pháp xâm lược. Kể từ đây Việt Nam bước vào thời kỳ khủng hoảng đường lối cứu nước kéo dài gần 100 năm.
    Từ tháng 7 năm Mậu Ngọ (31-7-1858), tư bản Pháp bắt đầu xâm lược Việt Nam. Sau khi đánh chiếm Gia Định, buộc triều đình nhượng đứt ba tỉnh miền Đông Nam Bộ (1862), lấy nốt ba tỉnh miền Tây (1887), thôn tính xong các tỉnh Nam Kỳ (1873), chúng bắt đầu đánh chiếm Hà Nội. Ngày 6-6-1884, thực dân Pháp buộc triều đình Huế phải ký hiệp ước Patơnốt, tước hết quyền dân tộc, dân sinh và dân quyền của Việt Nam.
    Về chính trị, thực dân Pháp thi hành chính sách chuyên chế điển hình. Mọi quyền hành đều nằm trong tay người Pháp. Vua, quan Việt Nam chỉ đóng vai trò bù nhìn. “Chủ nghĩa thực dân Pháp không hề thay đổi cái châm ngôn “chia để trị” của nó. Chính vì thế mà nước An Nam, một nước có chung một dân tộc, chung một dòng máu, chung một phong tục, chung một lịch sử, chung một truyền thống, chung một tiếng nói, đã bị chia năm, xẻ bảy. Lợi dụng một cách xảo trá sự chia cắt ấy, người ta hy vọng làm nguội được tình đoàn kết, nghĩa đồng bào trong lòng người An Nam và tạo ra mối xung khắc giữa anh em ruột thịt với nhau. Sau khi đẩy họ chống lại nhau, người ta lại ghép một cách giả tạo các thành phần ấy lại, lập nên một “liên bang” gọi là Liên bang Đông Dương”.
    Về văn hoá, chúng thi hành chính sách ngu dân hòng nô dịch nhân dân ta trong vòng ngu tối. Các quyền tự do đều bị cấm. Chúng xây dựng nhà tù nhiều hơn trường học và bệnh viện. Chúng bưng bít, ngăn cản ảnh hưởng văn hoá tiến bộ trên thế giới, kể cả văn hoá tiến bộ Pháp dội vào Việt Nam, nhưng lại khuyến khích văn hoá đồi truỵ, mê tín dị đoan...
    Về kinh tế, tư bản Pháp không phát triển công nghiệp nặng mà chỉ mở mang một số ngành trực tiếp phục vụ cho bộ máy thống trị và khai thác tài nguyên để cung cấp nguyên liệu cho nền công nghiệp của nước Pháp. Chính sách độc quyền kinh tế của thực dân Pháp đã biến Việt Nam thành thị trường, nơi vơ vét tài nguyên và bóc lột nhân dân bằng thuế khoá nặng nề và nhân công rẻ mạt của chính quốc.
    Khuất phục được triều đình nhà Nguyễn, nhưng khắp nơi từ Nam chí Bắc thực dân Pháp đã vấp phải ý chí chống xâm lược kiên cường của nhân dân ta. Giặc Pháp phải mất gần 30 năm (1858 -1884) mới chiếm được nước ta. Nhưng, chưa đầy một năm sau hiệp ước Patơnốt, vua Tự Đức chết, Hàm Nghi lên nối ngôi (1885) đã cùng với Tôn Thất Thuyết và Trần Xuân Soạn ra mật lệnh cho quân dân các địa phương không được hợp tác với Pháp. Năm 1886, Hàm Nghi rời khỏi kinh thành, lập căn cứ kháng chiến ở Tân Sở (Quảng Trị) và hạ Chiếu Cần vương cứu quốc. Tuy lòng yêu nước và dũng cảm có thừa nhưng tất cả những phong trào yêu nước của Việt Nam giai đoạn này cuối cùng đều thất bại.
    Việc duy trì chế độ phong kiến để bóc lột bằng địa tô, lợi tức và các hình thức thuế khoá rất nặng nề của thực dân Pháp khiến các mâu thuẫn xã hội của Việt Nam ngày càng trở nên sâu sắc, càng đẩy nhanh quá trình cách mạng hoá nhân dân Việt Nam.
    Nông dân là lực lượng đông đảo, yêu nước, là chỗ dựa của các cuộc kháng chiến chống lại sự xâm lược của các thế lực phong kiến phương Bắc trong lịch sử. Nhưng, khi đối đầu với một kẻ thù mới - tư bản phương Tây - họ không thể vạch ra đường lối đúng đắn để tự giải phóng và không thể đóng vai trò lãnh đạo cách mạng
     
    Gửi ý kiến

    ↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng ZIP và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT  ↓


    Cảm ơn quý vị và các bạn đã đến với website "Bác Hồ với Huế"
    www.bachovoihue.tk