TRƯỜNG THPT VINH XUÂN

Dịch ngôn ngữ khác

Xem phiên bản mới


TÌM HIỂU

Tìm hiểu lịch sử

Tìm hiểu về Đảng

Huế xưa và nay

TÌM HIỂU VỀ BÁC HỒ










BÁC HỒ VỚI HUẾ

Điều tra ý kiến

Bác Hồ sống và học tập ở Thừa Thiên Huế trong thời gian nào ?
1890 - 1895
1895 - 1901
1901 - 1906
1906 - 1909
1895 - 1901 & 1906 - 1909

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Online

    0 khách và 0 thành viên
    Gốc > Người Huế được gặp Bác >

    Dũng sĩ diệt Mỹ Nguyễn Văn Hòa - ba lần được gặp Bác Hồ

    Ba mươi sáu năm sau - những thiếu niên dũng sĩ diệt Mỹ nổi tiếng trong những năm chiến trường miền Nam ác liệt nhất, đã từng vượt Trường Sơn ra thăm Bác Hồ - nay mới có dịp gặp lại nhau giữa lòng thủ đô vào một ngày giữa tháng 12. Nữ dũng sĩ Hồ Thị Thu - ba lần được gặp Bác - nay đứng trước linh cữu Người, chị nức nở: "Bác ơi, cháu và các đồng đội không sợ gian khổ, không sợ hy sinh chỉ sợ bị mù hai con mắt, không được nhìn thấy Bác khi Bác vô thăm...".

    Cho đến hôm nay, khi đoàn thiếu niên dũng sĩ miền Nam đã được gặp Bác Hồ trong những năm 1967, 1968, 1969 ra thăm lại thủ đô, tôi mới được một lần gặp các anh, các chị. Tên tuổi và thành tích diệt Mỹ của các anh, các chị được đăng tải trên báo Thiếu niên Tiền phong ngày ấy đã in đậm trong tâm trí chúng tôi - lứa nhi đồng mới chớm tuổi cắp sách đến trường với những cái tên: Ngô Nết, Hồ Thị Thu, Đoàn Văn Luyện, Võ Hường, Hồ Ngọc Biên, Hồ Văn Mên, Nguyễn Văn Hoà, Võ Phổ...

    Tôi giật mình khi đọc được dòng chữ đầu tiên trong danh sách các dũng sĩ: Anh Nguyễn Văn Hoà - tức Cu Theo. Tôi chợt nhớ đến câu thơ của nhà thơ Tố Hữu: "Tên em là Nguyễn Văn Hoà/ Mẹ em thường gọi em là Cu Theo..." và hỏi ngay người dũng sĩ đang ngồi trước mặt về "tung tích" của Cu Theo năm nào.

    Hoá ra người mà tôi hỏi chuyện lại chính là dũng sĩ diệt Mỹ Võ Phổ - đội viên duy nhất còn sống của đội quyết tử Nguyễn Văn Trỗi - xã Hoà Liên, huyện Hoà Vang (Đà Nẵng) trong những năm chiến tranh ác liệt nhất.

    Anh Võ Phổ thốt lên: "Đúng rồi. Tiếc là anh Hoà đã không ra được cùng đoàn, trước ngày đoàn lên đường, anh bị tai biến mạch máu não. Không biết có phải vì quá xúc động đã khiến anh lâm bệnh".

    Hai tên Mỹ, 7 tên ngụy và một chiếc xe quân sự đã bị tiêu diệt bởi một mưu trí dũng cảm của Cu Theo khi mới 14 tuổi. 15 tuổi, Cu Theo đã diệt được xe tăng Mỹ. Ba lần được gặp Bác Hồ - vinh dự đó đã tiếp thêm sức mạnh và ý chí để Cu Theo lập nhiều thành tích và tên anh đã đi vào trang sách, khắc sâu trong tâm trí trẻ thơ ở miền Bắc trong những năm của thập kỷ 1960. (Trích Những dũng sĩ năm xưa lại về bên Bác, báo Lao Động)

    Khi Dũng sĩ diệt Mỹ Nguyễn Văn Hòa (tức cu Theo) ra Bắc, lúc đó mới 14 tuổi, được vào gặp Bác Hồ. Khi được hỏi về hoàn cảnh gia đình, Nguyễn Văn Hòa thưa với Bác: mạ ở nhà trồng khoai, trồng sắn nuôi con và giúp cán bộ, bộ đội trên căn cứ. Ba tập kết ra Bắc đến nay chưa biết tin tức. Bác Hồ đã lập tức nhắc đồng chí Tố Hữu tìm ba cho cu Theo, để hai cha con được gặp nhau. Cu Theo được Bác Hồ cho ăn kẹo, tặng sách, Bác lại động viên cố gắng chữa bệnh, ăn uống cho mau khỏe để đi học; được Bác cho phép cùng Bác đón tiếp khách quốc tế, được nghỉ ngơi thoải mái ở Nhà sàn của Bác.

     images332844_s3a

     Ảnh từ trái sang, dũng sĩ Võ Phổ, Ngô Nết, Võ Hường, Hồ Văn Mên, Hồ Thị Thu, Nguyễn Văn Hoà và Đoàn Văn Luyện gặp gỡ Bác Hồ và Bác Tôn ngày 1.12.1968.

     

    CHUYỆN EM NGUYỄN VĂN HÒA

    Em tên là Nguyễn Văn Hoà
    Mẹ em thì gọi em là cu Theo
    Cha đi tập kết. Nhà nghèo
    Sớm khuya tay mẹ chống chèo nuôi con
    Chị thì hái củi trên non
    Em thì mưa nắng bãi cồn chăn trâu
    Đêm nằm hỏi mẹ: Cha đâu?
    Mẹ rằng: Mau lớn năm sau cha về…
    Đợi hoài, đợi mãi, lâu ghê!
    Làng trên xóm dưới, bốn bề ác ôn
    Mỹ xây luỹ, Nguỵ đóng đồn
    Sáng vây xét hỏi, tối dồn khảo tra.

    Mười năm biền biệt tin cha
    Một đêm các chú đâu mà thiệt đông
    Về làng, súng đạn đầy hông
    Chú mô chú nấy mặt trông rất hiền.
    Kể từ hôm đó, làng Yên
    Bỗng vui như có ông tiên đến nhà.
    Ruộng vườn chia lại trái hoa
    Xóm thôn lập hội, trẻ già vần công
    Mùa chiêm lúa chín vàng đồng
    Bát cơm “giải phóng” no lòng từ nay
    Mẹ em rạng mặt tươi mày
    Em như mọc cánh chim bay tung trời…

    Nằn nì xin mẹ: Mẹ ơi
    Lên xanh chị đã đi rồi, còn con?
    Mẹ ôm em, mẹ cười giòn:
    Mi đồ con nít, trứng khôn hơn vịt à?
    Đi mô cho ngái cho xa
    Ở nhà với mẹ đặng mà nuôi quân!
    Mình nghèo, không tạ thì cân
    Mít thơm bán chợ, góp phần mua lương.
    Mẹ con, một bữa, về đường
    Gạo ngon một gánh em sương nặng đầy
    Nguỵ đâu xông lại cả bầy
    Bắt em, nó hỏi: Gạo này cho ai?
    Nó đá đít, nó bạt tai
    Đau em, em chịu, chẳng khai một lời
    Thương anh, anh giải phóng ơi!
    Càng thương gạo đổ gạo rơi xuống bùn…

    Chạy về một mạch đầu thôn
    Thưa anh xã đội: Cho em luôn theo cùng…
    Anh rằng: Cứu nước, việc chung
    Tuổi thơ cũng phải anh hùng, nghe em!
    Việc quân chạy suốt ngày đêm
    Chỉ mê đánh Mỹ, chẳng thèm chút chi.
    Chúng em một đội thiếu nhi
    Đứa thì canh gác, đứa thì giao liên
    Gió mưa chân lội khắp miền
    Khi về Tiên Nộn, khi lên Nguyệt Biều
    Giặc kia bom đạn bao nhiêu
    Chúng tao gan dạ lại nhiều hơn bay!
    Chiều chiều trông ngọn Tam Thai
    Thấy quân Mỹ đóng như gai đâm lòng
    Phải chi ra trận xung phong
    Măng non em cũng sắt đồng chứ sao?

    Tuổi mười bốn những ước ao
    Buổi đầu cầm súng biết bao là mừng…
    Mẹ ơi, súng đẹp quá chừng!
    Con đi đánh giặc, mẹ đừng lo chi.
    Mẹ cười: Thiệt giống cha mi
    Chẳng ăn chi cả, cứ đi đánh hoài!
    Sớm hôm, củ sắn củ khoai
    Khi đi trinh sát, khi gài mìn chông
    Khi ra xung trận giữa đồng
    Khi lăn dưới lửa, thoát vòng giặc vây
    Súng này càng đánh càng hay
    Một tay em chấp mười tay quân thù
    Thằng Mỹ vừa ác vừa ngu
    Nó như con cọp mắt mù đó thôi
    Thằng Nguỵ vừa dại vừa tồi
    Nó như con rắn theo đuôi ăn tàn.

    Một hôm sương sớm chưa tan
    Em đi phục kích, đón đoàn chiến xa
    Xe đầu, lính nhép, cho qua
    Xe sau, quan tướng ngồi ba bốn thằng.
    Tức thì, mìn điện giật phăng
    Tướng quan lăn chết nhăn răng một hàng
    Xe kia quạy lại bàng hoàng
    Chết thêm hai đứa, vội vàng tháo im.
    Đánh rồi, lên ngọn đồi sim
    Trông mây bay múa, xem chim hót mừng…
    Bỗng đâu từ dưới chân rừng
    Mười xe Mỹ đến, đùng đùng giương oai
    Nào xem, ai thắng được ai?
    Mỹ mười xe thép, em hai chân đồng
    Năm giờ vây đuổi uổng công
    Băng đồi vượt dốc, ra sông em ngồi
    Đợi thằng giặc Mỹ đến nơi
    Bắn ngay một phát đi đời, sướng ghê!
    Kinh hồn, rút cả mười xe
    Hai chân em lại đi về tung tăng.

    Súng em càng đánh càng hăng
    Chỉ mong mau giỏi, mau bằng các anh.
    Xa rồi, lại nhớ trên xanh
    Măng tre, môn vót lều tranh mái kè
    Tháng ngày ngọn suối bờ khe
    Mà vui như hội, bốn bề yêu thương
    Tay em một khẩu súng trường
    Mà như có cả quê hương đánh cùng
    Ôi quê ta rất anh hùng!
    Nước non đâu cũng trùng trùng tiến quân
    Ầm ầm biển lửa nhân dân
    Đẹp như Huế dậy đầu xuân đỏ cờ!

    Chuyện em rứa đó, anh nờ
    Bấy lâu trong ấy, bây giờ ra đây
    Nhớ cha, chưa biết mặt mày
    Bác Hồ thương cháu, gọi ngay đến Người.
    Bác nghe cháu kể, Bác cười
    Bác khen, cháu nhớ từng lời Bác khuyên.
    Vui chăng, hỡi mẹ làng Yên!
    Thằng cu Theo được về bên Bác Hồ…

    ---------------

    TỐ HỮU, 12-1968

     

    @ Nguyễn Văn Hoà - Cu Theo

    Nguyễn Văn Hoà, 15 tuổi, quê ở Thừa Thiên, là dũng sĩ diệt Mỹ, dũng sĩ quyết thắng.


    Nhắn tin cho tác giả
    Hoàng Nhật Minh @ 10:43 30/07/2011
    Số lượt xem: 5052
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Cảm ơn quý vị và các bạn đã đến với website "Bác Hồ với Huế"
    www.bachovoihue.tk