TRƯỜNG THPT VINH XUÂN

Dịch ngôn ngữ khác

Xem phiên bản mới


TÌM HIỂU

Tìm hiểu lịch sử

Tìm hiểu về Đảng

Huế xưa và nay

TÌM HIỂU VỀ BÁC HỒ










BÁC HỒ VỚI HUẾ

Điều tra ý kiến

Bác Hồ sống và học tập ở Thừa Thiên Huế trong thời gian nào ?
1890 - 1895
1895 - 1901
1901 - 1906
1906 - 1909
1895 - 1901 & 1906 - 1909

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Online

    3 khách và 0 thành viên
    Gốc > Người Huế được gặp Bác >

    Bà Nguyễn Đình Chi (1909-1997)

    Bà Nguyễn Đình Chi - nhân sĩ tiêu biểu, chủ nhân nhà vườn An Hiên nổi tiếng của Huế. Nói đến vườn An Hiên hẳn rất ít người không biết đó là một di sản thiên nhiên - văn hoá - kiến trúc thu nhỏ trong di sản đồ sộ mang tên Cố đô Huế. Chủ nhân của di sản An Hiên - "vương quốc của cỏ cây và sách quý" - là bà Nguyễn Đình Chi nổi tiếng với các tên hiệu khác nữa như Tùng Chi, Tuần Chi.

    Nhũ danh của bà là Đào Thị Xuân Yến (1909-1997), thường được gọi theo tên chồng là bà Nguyễn Đình Chi (Tuần Chi), quê ở làng Hưng Thạnh, phủ Tuy Phước (nay thuộc TP. Quy Nhơn). Năm 1923, bà ra Huế học Trường Đồng Khánh. 18 tuổi, bà cầm đầu cuộc bãi khóa chống thực dân Pháp của nữ sinh Đồng Khánh. Năm 1933, bà là phụ nữ Trung kỳ đầu tiên đậu tú tài Tây.Theo Nguyễn Đắc Xuân, bà là một chứng nhân lịch sử đã tham dự tất cả những sự kiện lịch sử lớn của Huế thế kỷ XX. Bà là người phụ nữ miền Trung đầu tiên đỗ Tú tài Tây ở trường Albert Sarraut, là hiệu trưởng trường nữ trung học Đồng Khánh - Huế. Bà theo Mặt trận Việt Minh từ những năm đầu Cách mạng Tháng Tám và năm 1968, ra chiến khu tham gia kháng chiến, có thể nói bà là nhà ngoại giao quần chúng đứng đầu ở miền Nam Việt Nam.

    Sau Cách mạng Tháng Tám, bà là phó chủ tịch Hội Liên Việt Thừa Thiên, năm 1952 làm Hiệu trưởng Trường Đồng Khánh. Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, bà thoát ly ra vùng giải phóng, làm phó chủ tịch UBND cách mạng tỉnh Thừa Thiên Huế, rồi ủy viên Hội đồng cố vấn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam; năm 1974, là ủy viên Hội đồng Hòa bình Thế giới. Sau năm 1975, bà là ủy viên Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, rồi đại biểu Quốc hội khóa VI, VII.

     tuan_chi
    Bà Nguyễn Đình Chi - nhân sĩ tiêu biểu của Huế

    Thực ra, bà đã nổi tiếng là người nhan sắc và tài trí hơn người từ thời là nữ sinh Đồng Khánh (năm 1923) với nhũ danh Đào Thị Xuân Yến: Là người cầm đầu cuộc bãi khoá chống Pháp của nữ sinh Đồng Khánh tháng 4.1927, một trong những người đầu tiên hưởng ứng phong trào dùng hàng nội hoá (1930), người phụ nữ đầu tiên học trường Tây và đỗ tú tài Tây (1933), là người giỏi tiếng Pháp và biết nhiều ngoại ngữ... Năm 1968, lúc đã qua tuổi lục tuần, bà thoát ly tham gia hoạt động cách mạng, có nhiều đóng góp quan trọng cho dân tộc nhờ trí tuệ và hiểu biết uyên thâm, và cũng từng trải qua nhiều cương vị quyền lực trong bộ máy lãnh đạo của quốc gia. Câu chuyện một nữ trí thức tài sắc xuất chúng, phong cách đài các, nhẹ nhàng tinh tế của đất thần kinh bí mật, lặng lẽ hoạt động cách mạng từ thời nữ sinh để rồi bất ngờ đến tuổi 60 đã nhảy núi lên địa đạo Khe Trái tiếp tục làm nhiều việc có ích cho dân tộc, cho đến nay vẫn gợi nhiều trắc ẩn: "Trước kia, tôi chỉ biết bà như một trí thức tên tuổi có thái độ tiến bộ trong các vấn đề chính trị, được nhiều người kính trọng về nhân cách. Một ngày hoàn toàn bất ngờ, tôi được gặp lại bà trong một buổi tiếp của Thành uỷ Huế, phòng khách là một hang đá Trường Sơn rền tiếng bom, lúc ấy tóc bà đã bạc nhiều" (Hoàng Phủ Ngọc Tường).

    Năm 1968, bà Nguyễn Đình Chi có mặt trong Đoàn Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hòa bình thành phố Huế đến Phủ Chủ tịch gặp Bác Hồ. Hồi tưởng lại những ngày tháng ấy, bà không khỏi xúc động bởi Bác không chỉ quan tâm đến những việc lớn lao mà còn quan tâm chăm sóc đến từng việc nhỏ, từng con người cụ thể và những “người Huế” luôn có trong tình cảm đặc biệt ấy. Bà còn nhớ, thời gian Đoàn Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hòa bình thành phố Huế ở Hà Nội, Bác luôn hỏi thăm về tình hình ăn ở và nhắc nhở các đồng chí ở Ban Thống nhất chăm lo cho Đoàn, Bác đã hỏi” “đã có người nấu ăn cho Đoàn Huế chưa? Người nấu ăn phải biết khẩu vị của người Huế đó nhé”; “Đoàn Huế đã đủ đồ ấm chưa? Trong Huế không lạnh như ngoài Bắc đâu!”. Có những việc tưởng chừng chỉ những người thân ruột thịt mới hiểu và quan tâm đến vậy, vậy mà Bác đã làm thật chu đáo, Bác dặn: “Bà Đức (bà Nguyễn Đình Chi) ra đây buồn, các chú phải tìm một cháu bé đến chơi với bà nhưng phải tìm cho được một cháu ngoan và dễ thương đấy nhé”.

     vuon_an_hien_3_500
     Cổng nhà vườn An Hiên - nơi ở của Bà Tùng Chi

    Sau ngày đất nước thống nhất, bà Nguyễn Đình Chi được bầu làm đại biểu Quốc hội. Ngay từ thời đó, tại diễn đàn Quốc hội, bà Chi đã lên tiếng kêu gọi cần có một tầm nhìn sâu rộng và một chiến lược quốc gia đủ tầm để giữ gìn các di tích lịch sử, văn hoá Cố đô Huế. "Huế vẫn giữ nguyên di tích của thời xưa: thành trì, cung điện, miếu mạo, lăng tẩm, chùa chiền. Đó là vốn quý của văn hoá, không phải của vua chúa. Tôi xin nhấn mạnh điều này và xin nhắc lại, không phải của vua chúa...". So sánh phát biểu này từ năm 1976 của một nữ dân biểu đến từ xứ Huế với các phát biểu gần đây của chỉ một số ít dân biểu cho thấy sinh hoạt nghị trường sở dĩ còn ít lôi cuốn cử tri vì vẫn còn quá ít những bà nghị, ông nghị như Nguyễn Đình Chi. Năm 1994, bà Chi 85 tuổi, sức khoẻ bà không đủ để tự đi lại một cách bình thường, nhưng khi tiếp sứ giả UNESCO về đề tài Huế và văn hoá Huế, bà vẫn nói chuyện trực tiếp, không cần phiên dịch. "Các ông văn hoá Thừa Thiên, các ông văn hoá ngoài Bộ Văn hoá tôi thấy nhiều rồi, nhưng cái chính là phải thấy được văn hóa kia" - câu nói này của bà Nguyễn Đình Chi khi kết thúc cuộc trò chuyện với đoàn sứ giả vẫn được đăng nguyên văn trên báo Người Hà Nội số ra ngày 20.11.1994 cho thấy sự mạnh mẽ, không khí dân chủ và đổi mới của một thời kỳ rất đáng nhớ và... ao ước!


    Năm 1990, bà Nguyễn Đình Chi đã góp ý với Đảng rất nhiều vấn đề, mà vấn đề nào cũng là sống còn của dân tộc, của Đảng cả, và quan trọng là mãi cho đến hôm nay tất cả những vấn đề mà bà Chi nêu ra cách đây 20 năm đều hoặc vẫn đang là... "vấn đề" hoặc là đã trở nên "vấn đề một cách trầm trọng hơn". Bà Chi nói rằng thời làm kháng chiến, Đảng rất đẹp, cán bộ rất đẹp, rất giỏi nhưng khi hoà bình thì bộc lộ những nan đề như sự yếu kém năng lực, sự tha hoá phẩm chất cộng sản, mất dân chủ hoặc là dân chủ hình thức... Và bà gọi đó là thực trạng "khó lòng ngăn cản được tâm trí họ nghĩ đến hai chữ mà chúng ta không muốn nói đến là "đa nguyên"" (Nhánh tùng vườn An Hiên, tr.89). "Chúng ta rất xem thường chất xám. Chủ nghĩa lý lịch, ưu tiên giai cấp công nông đã bỏ rơi biết bao người tài giỏi. Tiêu chuẩn về con người của chúng ta đã quá cũ, quá lạc hậu. Muốn lấy lại lòng tin, Đảng phải có một chính sách thích hợp...". Lấy những góp ý này để trình lên các cơ quan quyền lực hôm nay vẫn bảo đảm rất thời sự, rất tâm huyết, không ai có thể nghĩ rằng nó đã được viết ra cách đây 20 năm bởi một lão bà 84 tuổi, tên là Nguyễn Đình Chi.

     vuon_an_hien_2_500
     Nhà vườn An Hiên - nơi ở của Bà Tùng Chi

    Tác giả của Nhánh tùng vườn An Hiên - Nguyễn Đắc Xuân, cũng là một người Huế, một người Huế đặc biệt - mãi đến năm 15 tuổi, ông mới được lần đầu tiên cắp sách vào lớp 1; ý chí và nghị lực đã giúp ông trở thành một nhà văn, nhà nghiên cứu, thông thạo ngoại ngữ, hiểu biết sâu rộng nhiều lĩnh vực văn hoá, lịch sử. Đặc biệt, đối với bà Nguyễn Đình Chi, Nguyễn Đắc Xuân đã trở thành người học trò, người bạn vong niên, người yêu Huế, yêu dân tộc cùng chí hướng với bà. Nhờ vậy, trong Nhánh tùng vườn An Hiên có rất nhiều câu chuyện của tri âm. Cá tính mạnh mẽ, quyết liệt của Nguyễn Đắc Xuân cho thấy khá toàn diện chân dung con người chính trị, cách mạng của bà Nguyễn Đình Chi. Và ở một góc khác, ta thấy một Nguyễn Đình Chi thẳm sâu, thảng thốt đau đáu đầy chất kẻ sĩ và thi sĩ: "Thuở Huyền Trân công chúa qua đây, chắc sông cũng xanh như vậy...".

    Mặc dù "Người cầm bút xứ Huế" Nguyễn Đắc Xuân khiêm tốn tự nhận ấn phẩm này chỉ như là một sưu tập, ghi chép bước đầu, nén hương tưởng niệm về một nhân vật lớn, nhưng rõ ràng Nhánh tùng vườn An Hiên đã là một câu chuyện cuốn hút, nói như Hoàng Phủ Ngọc Tường là "sức bền bỉ của tấm lòng giúp nước nơi độ tuổi của bà (Nguyễn Đình Chi) mãi làm cho tôi ngạc nhiên, như thể bên trong tâm hồn bà, cuộc hành trình đã được chuẩn bị từ trước". Bà chủ vườn An Hiên được Nguyễn Đắc Xuân coi là “Bà mẹ văn hoá” của mình.

    imagehandler 
     Tác phẩm "Nhánh tùng vườn An Hiên" của nhà văn Nguyễn Đắc Xuân
    ---------------
    (Theo Đọc Nhánh tùng vườn An Hiên, Nguyễn Đắc Xuân, NXB Thuận Hoá, tháng 11.2010)
     *******
     Tham khảo thêm: NÉT HUẾ CỦA BÀ CHỦ VƯỜN AN HIÊN

    TP - Nhiều người nói, du khách chưa đến thăm ngôi nhà vườn cổ An Hiên là chưa biết hết những giá trị của nhà vườn Huế. Xin được nói thêm: Chưa được gặp gỡ nữ chủ nhân vườn An Hiên coi như chưa đến An Hiên.

    nhavuonanhien160704Sành Huế và sành chơi như Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng đã phải giật mình trước sự am tường của bà Tùng Chi về Hoa trái quanh tôi. Lắm người không thích hoa trà vì nó chỉ có sắc mà không có hương, trong đó có Hoàng Phủ Ngọc Tường.

    Té ra không phải. Bà Tùng Chi lại nghĩ khác, từng trải như cụ Nguyễn Du mới nhận ra rằng với hoa trà mi con ong đã tỏ đường đi lối về. Người không biết nhưng con ong nó biết.

    Nếu có “nhà nông học về Truyện Kiều” thì người đầu tiên phải kể đến có lẽ là bà Tùng Chi. Quanh năm sống với hoa trái tràn ngập trong vườn nên bà biết con ong bầu rất mê hoa trà. Khi nó đã hút nhụp rồi thì đuổi mấy cũng không chịu bay.

    Và mới biết vốn sống của cụ Nguyễn Du thật đáng nể. Giao thời năm cũ và năm mới ta bắt gặp Hải đường lả ngọn đông lân/Giọt sương gieo nặng cành xuân la đà. Vào hạ thì Dưới trăng quyên đã gọi hè/Đầu tường lửa lựu lập loè đâm bông.v.v…

    Quẻ bấm độn của Hoàng Phủ Ngọc Tường trong Hoa trái quanh tôi tôi thích nhất câu “…Vườn An Hiên không chỉ là nơi ở mà là một cuốn tự truyện viết bằng nét chữ của cây cỏ”.

    Và tôi cũng xin được chua thêm rằng: Cuộc đời của chủ nhân An Hiên cũng là một cuốn tự truyện, một câu chuyện nhiều tập đến bây giờ mới được kể đầy đủ. Tôi xin góp mấy mẩu chuyện nhỏ.

    Cũng là lớp con cháu cả nhưng người có chức sắc thì bà xưng tôi và gọi ông. Trong khi đó cánh văn nghệ sĩ, báo chí bà thường xưng cô và gọi anh rất thân mật. Gặp điều gì sơ suất bà chỉ vẻ rất tận tình. Mỗi lần được bà tiếp chuyện, kiến thức, vốn sống của tôi cứ dày thêm.

    Khoảng năm 1993, tôi hướng dẫn một đoàn hơn 10 đồng nghiệp từ miền Đông Nam Bộ ra Huế tham quan. Từ chùa Linh Mụ trở về thành phố cả đoàn yêu cầu ghé thăm một ngôi nhà vườn. Dĩ nhiên là tôi dẫn các bạn vào thăm vườn An Hiên.

    Tôi vào phòng khách chào bà và xin phép. Bà bảo: Anh cứ tự nhiên. Trước khi cáo lui, mọi người đều rất muốn được diện kiến bà. Tôi lại ngỏ lời. Bà bảo: Được thôi. Nhưng anh nói các bạn chờ cho 30 phút. Lẽ ra anh điện thoại báo trước cho cô biết thì hay hơn. Để người ta đợi lâu hơi phiền, có người dễ sinh ra hiểu lầm…

    Lần khác, dịp gần tết tôi lên vườn An Hiên. Tôi đi một mình vì chỉ để chụp mấy tấm ảnh cho số báo Xuân. Xong việc tôi vào thăm hỏi bà trước khi ra về. Gặp lúc đang rỗi bà giữ tôi lại hỏi đủ thứ chuyện. Trong câu chuyện có hai lần bà lưu ý:

    Các anh phải viết làm sao để mọi người hiểu Huế bây giờ là di sản văn hoá thế giới rồi thì khách đến tham quan nhiều hơn. Phải làm sao để chất lượng phục vụ du khách tốt hơn, vui lòng khách đến vừa lòng khách đi... Cô cứ sợ phố phường nhiều chỗ còn nhếch nhác, các dịch vụ du lịch chưa tốt thì khách không hài lòng, họ nghĩ không tốt về thành phố Huế, về con người Huế.

    Câu chuyện đang dang dở thì nhà nghiên cứu Phan Thuận An cùng một nhà báo người Pháp đi vào. Anh Phan Thuận An giới thiệu chủ - khách rồi thưa với bà rằng: Anh bạn này đã văn kỳ thanh… nay rất muốn được diện kiến cô.

    Bà bảo: Chờ một tý để cô vào mặc áo nhé. Anh Phan Thuận An nói: Không sao, xin cô cứ tự nhiên như thế. Chúng cháu chỉ ghé khoảng 10 phút rồi còn phải lên chùa Linh Mụ là công việc chính của cả đoàn.

    Bà tiếp chuyện nhà báo Pháp, dĩ nhiên là bằng tiếng Pháp, ở gian giữa ngôi nhà rường. Nhà báo Pháp mở máy xin được chụp ảnh bà. Bà từ chối. Khi thấy câu chuyện giữa chủ và khách ra vẻ rất hứng khởi, nét mặt bà rạng ngời, từ ngoài hiên tôi bấm nhanh một kiếu. Đèn Flat loé sáng, bà giật mình hỏi: Ai chụp đó. Anh Thanh Tùng hả. Bậy quá. Lần sau không được như thế nhé.

    Tôi chỉ còn biết xin lỗi bà.

    Lúc đó tôi mới hiểu rằng, khi tiếp khách lạ, tiếp đại diện các cơ quan, chính quyền bà luôn luôn mặc áo dài, tóc bối và có trang điểm nhẹ, rất lịch sự. Chỉ có những người đã rất thân tình bà mới tiếp chuyện khi đang mặc thường phục là bộ bà ba bằng lụa trắng và để tóc xoã.

    Từ cách ứng xử trong giao tiếp và những lời chỉ dẫn lớp con cháu tôi hiểu quan niệm của bà là người phụ nữ phải có đủ tứ đức; phải rất lịch sự khi giao tiếp, đặc biệt là khi giao tiếp với nam giới.

    Mấy hôm sau lại có công việc lên mạn Kim Long. Tôi ghé thăm bà, biếu bà mấy tấm ảnh vườn An Hiên đang thay lá, nẩy lộc đón xuân vừa mới chụp hôm trước. Tôi cắt luôn mấy tấm phim cho vào bì đựng ảnh, trong đó có cả tấm phin chụp bà đang tiếp khách trong bộ bà ba trắng.

    Bà nhận ảnh, cám ơn, rồi trả phim lại cho tôi. Bà nói: Anh giữ lấy lỡ có khi cần phải sang thêm. Cô hiểu ý anh rồi đó. Cô không giận anh đâu nhưng anh phải nhớ là không riêng gì với cô, khi chụp ảnh phụ nữ thì phải yêu cầu họ ăn mặc thật lịch sự.

    -----------------

    Thanh Tùng (Theo Tiền Phong, 10/ 5/ 2010)


    Nhắn tin cho tác giả
    Hoàng Nhật Minh @ 10:11 30/07/2011
    Số lượt xem: 1948
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Cảm ơn quý vị và các bạn đã đến với website "Bác Hồ với Huế"
    www.bachovoihue.tk