TRƯỜNG THPT VINH XUÂN

Dịch ngôn ngữ khác

Xem phiên bản mới


TÌM HIỂU

Tìm hiểu lịch sử

Tìm hiểu về Đảng

Huế xưa và nay

TÌM HIỂU VỀ BÁC HỒ










BÁC HỒ VỚI HUẾ

Điều tra ý kiến

Bác Hồ sống và học tập ở Thừa Thiên Huế trong thời gian nào ?
1890 - 1895
1895 - 1901
1901 - 1906
1906 - 1909
1895 - 1901 & 1906 - 1909

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Online

    3 khách và 0 thành viên
    Gốc > Người Huế được gặp Bác >

    Đại tướng Nguyễn Chí Thanh - Vị tướng được Bác Hồ đặt tên

    nguyenchithanh_01Đại tướng Nguyễn Chí Thanh; tên thật là Nguyễn Vịnh, (1914–1967) quê tại xã Liêm Phò, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế trong một gia đình trung nông. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, nhà chính trị-quân sự xuất sắc của quân đội nhân dân Việt Nam.

    Năm ông 14 tuổi bố ông mất, do hoàn cảnh gia đình ông phải bỏ học đi làm tá điền giúp mẹ nuôi các em. Năm 16 tuổi ông quen và yêu một cô gái xinh đẹp con một lý trưởng trong làng. Nhưng gia đình nhà gái chê ông nghèo, thân phận thấp cho nên không đồng ý và gả con cho người khác. Năm 17 tuổi ông cùng bạn bè tích cực tham gia phong trào bình dân, chống chính quyền thực dân.

    Năm 1934, khi 20 tuổi, ông đi làm thuê và bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng. Năm 1937, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ tháng 7 năm 1937 đến năm 1938 ông là Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên.

    Trong thời gian này ông quen bà Nguyễn Thị Cúc (sau này là vợ ông), bà là một người có học gia đình lại khá giá nhưng là cơ sở cách mạng những năm 1924-1925, bố bà là người trước kia thường xuyên lui đến nhà cụ Phan Bội Châu. Bản thân bà cũng có những hoạt động cách mạng từ rất sớm.

    Năm 1938, ông bị thực dân Pháp bắt, mặc dù không có chứng cớ nhưng ông vẫn bị toàn tuyên án 2 năm cầm cố và bị đưa về nhà lao Thừa Phủ (Thừa Thiên Huế). Cùng với ông, trong nhà lao Thừa Phủ lúc bấy giờ còn có các ông Tố Hữu, Hoàng Anh và Nguyễn Sơn.

    Từa năm 1938 đến năm 1945 ông bị thực dân Pháp bắt giam cả thảy ba lần, lần thứ hai ông bị đưa ra giam ở nhà tù Lao Bảo (Quảng Trị) và lần thứ ba ông bị đưa lên Buôn Ma Thuột. Tuy bị giam cầm, tra tấn nhưng ông vẫn giữ vững khí tiết của người cách mạng, tổ chức và lãnh đạo cuộc đấu tranh chống chế độ hà khắc của nhà tù thực dân đế quốc và tìm cách vượt ngục thắng lợi để tiếp tục hoạt động, khơi dậy phong trào. Tháng 3/1945, khi đang bị tạm giam ở nhà tù Buôn Mê Thuột, ông cùng những tù nhân chính trị được trả tự do nhờ phong trào đấu tranh mạnh mẽ của đồng bào sau sự kiện Nhật đảo chính Pháp. Ra tù, ông tích cực cùng Việt Minh tham gia vận động đồng bào Bình Trị Thiên đứng lên khởi nghĩa cướp chính quyền.

    Tháng 8 năm 1945, ông ra Việt Bắc dự hội nghị toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam (tại Tân Trào, Tuyên Quang)-hội nghị quyết định khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước, ông được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, được cử vào Tổng bộ Việt Minh và được chỉ định làm Bí thư Xứ ủy Trung Bộ. Cái tên Nguyễn Chí Thanh gắn với ông từ đây. Cách mạng tháng Tám thành công, ông được cử giữ chức Bí thư tỉnh ủy Thừa Thiên Huế rồi Bí thư Phân khu ủy Bình Trị Thiên. Giữa năm 1946, ông tổ chức lễ cưới với bà Nguyễn Thị Cúc.

    Linh hồn của cuộc kháng chiến Bình Trị Thiên


    Kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Cuộc chiến ở Huế bắt đầu vào lúc 2h30 phút ngày 20/12/1946 và kéo dài gần 2 tháng. Sau hơn 20 ngày đầu tiên nổ súng tấn công vào các vị trí đóng quân của quân Pháp, quân dân Thừa Thiên-Huế đã buộc quân Pháp phải co cụm cố thủ trong các trường dòng, viện dân biểu...

     khu_ln_nct_500
     Khu lưu niệm Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tại xã Liêm Phò, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế

    Tuy vậy, với âm mưu chiếm đóng khu vực Bình-Trị-Thiên làm bàn đạp tấn công các tỉnh phía bắc khu 4, Pháp phái quân tiếp viện đến giải vây và đẩy lùi quân kháng chiến ở Huế. Trước sức mạnh của đối phương, quân ta chỉ cầm cự được đến đầu tháng 3 rồi rút khỏi Huế bảo toàn lực lượng.

    Thừa thế, quân Pháp tiến công mở rộng, đánh chiếm Thừa Thiên Huế và các tỉnh xung quanh. Vừa đánh, quân Pháp vừa thực hiện chiến thuật "vết dầu loang" - xây dựng đồn bốt, lập hội tề và mở các cuộc càn quét để kiểm soát các vùng vừa chiếm được đồng thời thực hiện tất cả các biện pháp để truy bắt những đảng viên cộng sản bám trụ trong nhân dân, uy hiếp và tiêu diệt ý chí chiến đấu của nhân dân Huế nói riêng và mảnh đất miền trung nói chung. Sau khi mặt trận Huế vỡ, nhiều cơ quan đảng bộ trong tỉnh bị thiệt hại nghiêm trọng, như đảng bộ Phú Vang từ 193 đến thời điểm đó chỉ còn vẻn vẹn 23 đảng viên.

    Còn các đơn vị bộ đội, sau khi rút khỏi thành phố Huế, do hoạt động khủng bố gắt gao của quân Pháp, cuộc sống của các đơn vị này cũng trở nên vô cùng khó khăn: ăn đói, mặc rách, rét mướt, bệnh tật. Tinh thần và tư tưởng bị chao đảo, sức chiến đấu giảm sút nghiêm trọng.

    Những cuộc truy lùng gắt gao và hành quyết dã man các đảng viên cộng sản, những cuộc càn quét liên miên của giặc Pháp, thêm vào đó là sự rút lui của quân đội, tất cả đã khiến nhân dân hoang mang. Không khí sợ hãi, lo âu bao trùm trong dân chúng. Phong trào kháng chiến của Huế và cả khu vực Bình-Trị-Thiên chùn lại và vấp phải những khó khăn chồng chất. Không chỉ cần một ngọn lửa để giữ vững niềm tin, cuộc đấu tranh của nhân dân Huế còn cần có một lối đi mới, thích hợp với tình hình hiện tại. Đầu năm 1947, khu vực Bình Trị Thiên đã bị mất trắng vào tay quân Pháp.

    Trên cương vị Bí thư tỉnh uỷ Thừa Thiên-Huế, ông đã cho triệu tập gấp một hội nghị các cán bộ đảng tỉnh Thừa Thiên. Hội nghị diễn ra tại thôn Nam Dương (huyện Quảng Điền) vào ngày 25/3, tức là chỉ hơn nửa tháng kể từ sau khi bộ đội rút khỏi nội thành Huế và 9 ngày sau khi quân Pháp hoàn toàn chiếm được Huế.

    Ngay sau hội nghị Nam Dương, với định hướng đường lối rõ ràng, nhiều cán bộ đảng viên đã bất chấp nguy hiểm, vượt qua những hệ thống đồn bốt dày đặc của địch về cơ sở.

    Thế nên, chỉ hơn 1 tháng sau khi bộ đội chủ lực rút khỏi Huế, phong trào kháng chiến được gây dựng trở lại. Đến đầu năm 1948, từ chỗ bị đánh bật khỏi cơ sở, các cán bộ đảng viên đã gây dựng và từng bước củng cố các uỷ ban hành chính kháng chiến, bám sát, chỉ đạo nhân dân sản xuất, phục vụ chiến đấu

    Cùng với lực lượng cán bộ đảng viên, với phương châm: "Đánh địch để xây dựng cơ sở, xây dựng cơ sở làm chỗ dựa đánh địch", lực lượng vũ trang tỉnh Thừa Thiên đã tạo được sự phát triển mới trong phong trào toàn dân kháng chiến.

    Bắt đầu từ tháng 7/1947, một số tiểu đoàn quân chính quy được phân tán thành những đơn vị nhỏ - còn được gọi là các "tiểu đội độc lập", thực hiện "quần chúng hóa" bám dân, bám địa bàn, đẩy mạnh chiến tranh du kích, tác chiến liên tục, đánh vào các đồn bốt và ngăn chặn các cuộc càn quét của địch.

    Ngoài sự hoạt động hiệu quả của các "tiểu đội độc lập", phong trào phá tề do trung ương phát động đầu năm 1948 cũng phát triển hết sức mạnh mẽ, đều khắp. Hệ thống nguỵ quyền cơ sở mất hiệu lực khiến cho địch không dám tiến hành kiểm soát và khống chế dân. Ở nhiều xã ngay trong vùng địch tạm chiếm, ngụy quyền tan dã. Nhân dân khắp nơi hưởng ứng, giúp đỡ kháng chiến.

    Năm 1948, ông được cử giữ chức Bí thư Khu ủy Khu 4.

    Đến cuối năm 1949, cuộc kháng chiến của nhân dân Thừa Thiên-Huế nói riêng, Bình-Trị-Thiên chung đã đạt được khí thế mới: càng đánh cành mạnh như lời của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nối: "Bình-Trị-Thiên kháng chiến ngày càng vững mạnh lên, địch cũng phải công nhận."

    Nhà chính trị


    Năm 1950, ông được điều lên Việt Bắc và ngày 11/7/1950, ông được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bổ nhiệm giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Bộ tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam. Cũng tháng 2 năm này, tại đại hội lần I Liên đoàn thanh niên Việt Nam ông được bầu làm Chủ tịch Liên đoàn cho đến năm 1956.

    Trên cương vị Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, ông giáo dục cho cán bộ chiến sỹ thấm nhuần chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Quân đội ta là quân đội nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ. Ông đã tổ chức thực hiện sự lãnh đạo có hiệu lực của Đảng đối với quân đội, thực hiện đường lối quân sự của Đảng, tạo ra một bước phát triển mới về sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân, đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến, liên tục mở các chiến dịch lớn, từ chiến dịch Biên Giới 1950 đến chiến dịch Điện Biên Phủ. Chấp hành chỉ thị của Hồ Chủ tịch và Bộ Chính trị, ông đã tập trung vào tăng cường bản chất cách mạng của Quân đội Nhân dân. Tập trung xây dựng chế độ lãnh đạo tập thể của Đảng trong các cấp, từ Tổng quân uỷ đến chi bộ đại đội, làm cho công tác tư tưởng vượt lên trên phạm vi của công tác động viên và tác động tâm lý thông thường của con người theo bản năng, phát triển thành công tác giáo dục chủ nghĩa Mác Lê-nin, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, mục tiêu chiến đấu của quân đội.

    83453jp6 
     Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tháp tùng Bác Hồ về Nghệ An thăm quê năm 1957

    Với việc thiết lập và xây dựng hệ thống tổ chức công tác đảng - công tác chính trị trong quân đội, ông đã làm rõ các mối quan hệ giữa quân đội với Đảng, với Nhà nước, với nhân dân, với bầu bạn quốc tế, trong đó mối liên hệ giữa quân đội với Đảng là mối liên hệ bản chất chi phối các mối quan hệ khác. Chăm lo giáo dục chính trị, tư tưởng quân sự của Đảng thể hiện trong chiến lược, chiến dịch và chiến thuật; trong giải quyết mối quan hệ giữa chính trị và quân sự, giữa tiền tuyến và hậu phương, giữa con người và vũ khí, giữa lãnh đạo và chỉ huy, giữa đạo đức và tài năng của cán bộ... Tất cả đã tạo ra bước ngoặt về xây dựng chính trị làm cơ sở nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội Nhân dân.

    ‘’Khi Đảng cần Đại tướng cũng bị trưng dụng’’ (Đại tướng Nguyễn Chí Thanh)

    Ngày 31/8/1959, ông được phong Quân hàm Đại tướng theo quyết định của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

    Cuối năm 1960, tình hình nông nghiệp gặp khó khăn. Trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, năm 1961, ông được điều từ Quân đội sang phụ trách Trưởng ban nông nghiệp Trung ương cho tới năm 1964. Với một đất nước trước đây gần như thuần nông nghiệp thì đây là một lĩnh vực rất quan trọng, nó tạo tiền đề đầu tiền để phát triển miền Bắc đồng thời chuẩn bị cho kế hoạch chi viện và giải phóng miền Nam. Là một nhà quản lí có đầu óc tổ chức, ông đã vào Hợp tác xã Đại Phong Quảng Bình rồi Vĩnh Linh, Lạng Sơn, Yên Bái, Hải Phòng, Lào Cai để nghiên cứu, tìm hiểu cách quản lí và tổ chức rút kinh nghiệm nhằm phát động một phong trào rộng lớn trong nông nghiệp nhằm thi đua với hợp tác xã Đại Phong. Từ mô hình hợp tác xã Đại Phong ông đã nhân lên khắp miền Bắc, nhiều cánh đồng năm tấn xuất hiện khắp nơi tạo nên một diện mạo mới cho miền Bắc nói chung và các tỉnh nông thôn miền Bắc nói riêng. Câu ‘’Sóng duyên hải, Gió Đại Phong, Tiếng trống Bắc Lý’’ là khẩu hiệu, mục tiêu thi đua trên các mặt Công nghiệp-Nông nghiệp-Giáo dục một thời.

    Nhà chiến lược quân sự

    Bắt đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông được điều về lại Quân đội. Năm 1964, ông tình nguyện vào Nam chiến đấu. Từ năm 1965 đến năm 1967, ông là Bí thư Trung ương Cục miền Nam đồng thời là Chính ủy Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, tham gia lãnh đạo và chỉ đạo cách mạng miền Nam và cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

    Lúc này, đế quốc Mỹ đã đưa quân chiến đấu Mỹ và quân đội các nước chư hầu ồ ạt vào trực tiếp tham chiến, xâm lược miền Nam. Đây là thời điểm bước ngoặt của cuộc chiến tranh. Ông cùng lãnh đạo Trung ương Cục miền Nam đã nhận rõ: ở vào giai đoạn cuối của "Chiến tranh đặc biệt", nếu ta chỉ phát triển chiến tranh du kích, chỉ đánh địch ở quy mô nhỏ thì không thể giành thắng lợi quyết định được. Bởi vậy, cùng với việc xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang ba thứ quân, xây dựng lực lượng cách mạng của quần chúng, chúng ta phải coi trọng xây dựng các quả đấm chủ lực, ông đã cùng với Bộ chỉ huy Miền chỉ đạo mở các chiến dịch Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài và hàng loạt trận tiến công đánh bại từng chiến đoàn của chính quyền Sài Gòn cũ, cùng với việc phá rã hàng ngàn "ấp chiến lược", làm phá sản hoàn toàn chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của Mỹ - nguỵ.

     imageview.aspx.
    Đồng chí Văn Phác, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Thượng tướng Trần Văn Trà, Thượng tướng Hoàng Cầm ở căn cứ địa miền Đông Nam bộ năm 1965

    Quân đội Mỹ ồ ạt vào xâm lược miền Nam, cùng lúc đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh leo thang, dùng không quân và hải quân đánh phá ác liệt miền Bắc Việt Nam. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là người phát hiện sớm việc chuyển chiến lược của Mỹ. Phát kiến đó đã được Bộ Chính trị chấp nhận và đề ra quyết sách mới. Lúc đó, ông phân tích: Mỹ vào miền Nam trong thế thua, thế bị động về chiến lược; Mỹ có cả một kho vũ khí khổng lồ nhưng lại vấp phải một núi mâu thuẫn; Mỹ là tỷ phú về đô-la, nhưng quân và dân ta lại là tỷ phú về chủ nghĩa anh hùng cách mạng; Ta có đường lối chiến tranh cách mạng, có chiến thuật đúng, ta sẽ bắt quân Mỹ phải đánh theo cách đánh của ta, nên ta nhất định thắng.

    Thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông cùng Trung ương Cục và Bộ chỉ huy Miền đã chỉ đạo và tổ chức quân và dân miền Nam phát huy tư tưởng chiến lược tiến công trong tình hình nhiệm vụ mới, đánh thắng quân Mỹ ngay từ những trận đầu. Các trận thắng: Núi Thành, Vạn Tường, Bàu Bàng, Nhà đỏ - Bông Trang, Plây - me và thung lũng Ia - đrăng, cuộc hành quân A-ten-bơ-rô và nhất là đánh bại cuộc hành quân tổng lực để "tìm diệt" mang tên Gian-xơn-xi-ti đã làm nức lòng nhân dân cả nước; trực tiếp xây dựng, củng cố niềm tin và quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ của toàn dân tộc.

    Từ thực tế chiến đấu, sự sáng tạo của các đơn vị, các địa phương, ông đã tổng kết thành phương châm chỉ đạo tác chiến, đồng thời cũng là khẩu hiệu hành động cách mạng nổi tiếng, nhanh chóng đi vào lòng người, lan toả thành cao trào cách mạng trên khắp chiến trường như "Nắm thắt lưng địch mà đánh" nó thể hiện tư duy chiến thuật đồng thời cũng là chiến lược ‘’Ở gần, đánh gần’’, "Tìm Mỹ mà đánh, tìm nguỵ mà diệt", lập các "Vành đai diệt Mỹ", thi đua phấn đấu trở thành "Dũng sỹ diệt Mỹ", "Dũng sỹ diệt xe tăng" v.v...Thực hiện tư tưởng này, Quân giải phóng miền Nam đã thật sự chống được ý đồ "phân tuyến" của Mỹ - nguỵ, đã hạn chế đến mức tối đa (có trận đã vô hiệu hoá) hỏa lực phi pháo của đối phương. Ta thắng quân đội Mỹ, và sau này thắng quân của chính quyền Sài Gòn cũ ở giai đoạn "Việt Nam hoá chiến tranh" cũng từ cái tư tưởng "ở gần và đánh gần" này.

    Luôn sâu sát thực tế, nắm bắt nhanh nhạy mọi vấn đề, ông đã phân tích và khái quát rât sâu sắc cục diện cuộc chiến, nhất là sau chiến thắng lớn của ta đánh bại cuộc hành quân Gian-xơn-xi-ti của Mỹ ở miền Đông Nam Bộ. Bài viết "Năm bài học phản công chiến lược mùa khô" mang bút danh Trường Sơn của ông đã ngay lập tức trở thành tác phẩm có giá trị. Nó là vũ khí tư tưởng cho toàn đảng, toàn quân và toàn dân quyết đánh và quyết thắng quân Mỹ xâm lược.

    images1330011_nguyenchithanh-dhdangboqd-1
     Đại tướng Nguyễn Chí Thanh và Bác Hồ tại Đại hội Đảng bộ Quân đội năm 1960

    Kiệt sức vì công việc

    Mùa hè năm 1967, ông ra Hà Nội báo cáo tình hình chiến trường miền Nam và cùng Bộ chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh thiết kế và hoạch định kế hoạch cuộc Tổng tiến công Mậu Thân. Ông mất đột ngột vào ngày 6/7/1967, một ngày trước khi ông lên đường trở lại miền Nam.

    Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là một người có sức khỏe không được tốt. Những năm tháng tù đầy khắp các nhà lao ở miền Trung cộng với những năm kháng chiến gian khổ thiếu thốn, cường độ làm việc cao khiến cho ông bị mắc bệnh phổi-đã có thời gian Trung ương và Bác phải chỉ thị cho ông tạm dừng công việc để đi chữa bệnh. Từ năm 1965 đến 1967, những vất vả và khó khăn của những năm đầu kháng chiến chống Mỹ cứu nước dường như đã vắt kiệt sức khỏe và làm suy yếu trái tim của ‘’người tá điền vóc dáng khỏe mạnh’’ năm nào. Đợt ra Bắc năm 1967, ngày nào ông cũng phải làm việc tới khuya. Đêm cuối cùng trước khi vào Nam ông còn làm việc với tướng Song Hào và tướng Lê Quang Đạo. Đây là một đau thương vô hạn, một tổn thất vô cùng lớn của cách mạng Việt Nam, của chiến sỹ và đồng bào cả nước. Đối với Trung ương Cục, Bộ chỉ huy Miền và Quân giải phóng miền Nam thì đây là một tổn thất không gì bù đắp nổi.

    Nước da ngăm đen, đôi mắt sáng ngời, tính tình nhân hậu thẳng thắn. Ông là hiện thân của người nông dân mặc áo lính-vị tướng nông dân. Tác phong luôn luôn gần gũi và sâu sát với cán bộ cấp dưới và nhân dân. Có biết bao những câu chuyện kể về ông từ câu chuyện ông cõng lĩnh trong chiến dịch Hoàng Hoa Thám, chuyện ông ăn sắn độn khoai với bộ đội hay đến chuyện bà nọ đòi xem mặt Đại tướng. Ông là điển hình của tác phong lãnh đạo giản dị, không xa hoa lãng phí và không bao giờ lên mặt làm ‘’quan cách mạng’’. Xin trích một số câu nói của ông : ‘’Nước ta còn nghèo, miền Nam còn trong khói lửa chiến tranh, miền Bắc đang kiến thiết và xây dựng, kinh nghiệm xây dựng cuộc sống mới còn chưa nhiều. Tôi cũng đã từng đôi ba lần đi nước ngoài, tôi biết. Những nước phát triển, người ta làm gì cũng tính toán cân nhắc. Phòng khách, buồng ngủ, nhà ăn quy mô to nhỏ, trang trí thế nào là vừa phải. Lịch sự không có nghĩa là xa hoa, lãng phí’’-: “Từ chiến tranh chuyển sang hòa bình, khó tránh khỏi chớm nở trong bộ đội tư tưởng đòi hưởng thụ. Nhưng mình ở sang quá thì khó gần gũi anh em, mà có khi nói điều cần phải nói cũng khó lọt tai người nghe”-“Mình dù sao cũng còn trẻ, để nhường cho các đồng chí cao tuổi, yếu sức hơn. Nước ta nghèo, nếu cứ bày đặt ra, nhà trên dùng được máy điều hòa nhiệt độ thì nhà dưới cũng dùng được, rồi thi nhau bóc ngắn cắn dài, chết cả”…

     20646469_images1190257_nguyentrithanh1 20646469_images1190259_nguyentrithanh 
     Bác Hồ  và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh thăm nông dân xã Đại Nghĩa (Hà Đông) năm 1961

    Mộ của ông hiện đặt trong nghĩa trang Mai Dịch trong hai hàng chính giữa (ở bên trái nếu đi từ cổng vào), cùng hàng với Bác Tôn, nhà thơ Tố Hữu, Tổng bí thư Lê Duẩn…Một điều đặc biệt là chưa lần nào tôi vào viếng nghĩa trang Mai Dịch mà không thấy trước mộ ông một bó hoa cúc-một tình yêu thủy chung từ lúc hoạt động cách mạng gian lao cho đến khi một người đã khuất còn một người đã bước vào tuổi 90.

    Đại tướng được Đảng và Nhà nước tặng thưởng: Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất.

    Ngày 31/8/1959, ông được phong Quân hàm Đại tướng mà không phải qua một cấp bậc trung gian nào-giống như Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 1948 và là Đại tướng thứ hai của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

    Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là một trong những tướng lĩnh Quân đội Nhân dân Việt được Hội Sử học Việt Nam trân trọng đúc tượng đồng-hiện đặt tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. Tại quê hương ông có một khu tưởng niệm và tượng của ông. Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đều có những con đường mang tên ông.

     *********

    ĐỌC THÊM : VỊ TƯỚNG ĐƯỢC BÁC HỒ ĐẶT TÊN

    Quân đội ta có hai vị Đại tướng đầu tiên thì một người xuất thân từ trí thức, một người xuất thân từ nông dân và cùng quê Bình Trị Thiên. Có điều đặc biệt, người xuất thân từ trí thức thì trở thành quan võ, Bộ trưởng Quốc phòng, Tổng Tư lệnh. Người xuất thân từ nông dân thì trở thành quan văn, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam...

    Người cộng sản kiên cường

    Nói thế thôi, chứ thực ra cả hai vị đại tướng này đều là văn võ kiêm toàn, đều có nhãn quan chiến lược vào loại tầm cỡ, xứng đáng được ghi vào sử sách. Một người thì rõ ràng đã được thế giới suy tôn là một trong các vị tướng nổi tiếng thế giới. Còn một người thì đã từ giã chúng ta, để lại một chỗ trống không gì có thể bù đắp được và cho đến nay nhiều người vẫn nuối tiếc...

    Tên khai sinh của anh là Nguyễn Vịnh. Tại Hội nghị Đảng toàn quốc ở Tân Trào tháng 8/1945, khi nghe có tên Nguyễn Chí Thanh trong danh sách Ban Chấp  hành Trung ương Đảng, Nguyễn Vịnh quay sang hỏi đồng chí Võ Nguyên Giáp ngồi bên cạnh: "Nguyễn Chí Thanh là ai mà nghe lạ thế!". Đồng chí Võ Nguyên Giáp mỉm cười trả lời: "Là anh chứ ai nữa, chính Bác đặt tên cho anh đấy". Nguyễn Vịnh vừa ngỡ ngàng, vừa sung sướng! Từ đây cái tên Nguyễn Chí Thanh trở thành một phần lịch sử của quân đội ta, của Cách mạng Việt Nam.

    Nguyễn Vịnh sinh ngày 1/1/1914 tại làng Niệm Phò, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên.

    Cuối năm 1936, đầu năm 1937, anh may mắn được gặp các anh Phan Đăng Lưu, Nguyễn Chí Diểu trong Phong trào Mặt trận Bình dân và bắt đầu được giác ngộ về lý tưởng Cộng sản. Tháng 7/1937, Nguyễn Vịnh được kết nạp vào Đảng.

    images1332741_nguyenchithanh 

    Trong 8 năm, từ khi là một đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương, rồi Bí thư Chi bộ và sau đó là Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên, Nguyễn Vịnh đã bị đế quốc bắt giam 3 lần ở các nhà lao Huế, Lao Bảo, Buôn Ma Thuột và đã từng vượt ngục để tiếp tục hoạt động. Suốt thời gian lăn lộn với phong trào cũng như những năm tháng bị tù đày Nguyễn Vịnh luôn tỏ ra là một đảng viên cộng sản kiên cường, nguy hiểm không sờn lòng, khó khăn không lùi bước. Anh đã góp phần xây dựng cơ sở Đảng, đẩy mạnh  phong trào cách mạng ở Thừa Thiên - Huế trong suốt thời kỳ hoạt động bí mật trước cách mạng.

    "Chúng ta chỉ sợ mất lòng tin của dân"

    Đầu năm 1947, anh là người có công lớn trong việc khôi phục phong trào sau khi mặt trận Huế bị vỡ. Ngày 25/3/1947, tức 40 ngày sau khi quân ta rút khỏi Huế, với cương vị là Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên, anh triệu tập một cuộc họp đặc biệt, địa điểm họp không phải ở chiến khu mà là ở ngay làng Nam Dương (huyện Phong Điền) - một làng ở ngay sát nách địch, chỉ cách Huế 20 cây số.

    Mở đầu cuộc họp, anh đọc lá thư đề ngày 5/3/1947 của Bác Hồ "Gửi các đồng chí Trung Bộ", nêu lên những khuyết điểm của cán bộ đảng viên trong những ngày đầu  kháng chiến. Liên hệ với tình hình địa phương, anh nghiêm khắc tự phê bình và phê bình để rút ra bài học sâu sắc trong thời gian qua. Anh nói: "Bộ đội ta rất anh dũng. Tinh thần cách mạng của đồng bào ta rất cao. Điều đáng trách là cán bộ, đảng viên chúng ta không biết cách tổ chức huấn luyện và chỉ huy anh em đánh giặc". Cuối cùng anh củng cố lòng tin cho mọi người: "Mất đất chưa phải là mất nước. Chúng ta chỉ sợ mất lòng tin của dân. Có lòng tin của dân là có tất cả. Vì vậy chúng ta không được chạy dài. Chúng ta phải trở về với dân".

    Sau đó Tỉnh ủy Thừa Thiên đã ra nghị quyết nhấn mạnh tư tưởng chỉ đạo: "Phải nhanh chóng chuyển sang tiến công địch. Kiên quyết luồn trở lại vùng đồng bằng đang bị địch chiếm đóng, bám đất, bám dân, phát động phong trào chiến tranh du kích, phá tan chính sách bình định của địch". Từ đó phong trào kháng chiến ở vùng sau lưng địch của Bình Trị Thiên đã vượt qua được những khó khăn hiểm nghèo, từng bước tiến lên giành những thắng lợi.

    28_daituong828-to
    Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (bên trái) giao nhiệm vụ cho thiếu tướng Chu Huy Mân trước khi vào chiến trường miền Nam (năm 1964).

    Năm 1948, Trung ương quyết định thành lập Phân khu Bình Trị Thiên để thống nhất chỉ huy 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên. Phân khu ủy Bình Trị Thiên được thành lập và anh Thanh được chỉ định làm Bí thư.

    Nhận nhiệm vụ mới, anh cùng các đồng chí trong Phân khu ủy đi sâu nghiên cứu tình hình và ra nghị quyết mở một chiến dịch phá tề trong cả 3 tỉnh của Phân khu. Đây là một chủ trương sáng suốt và kịp thời. Kết quả là cả một hệ thống ngụy quyền địch ở cơ sở bị ta đập vỡ từng mảng lớn, làm cho chúng hết sức hoảng sợ. Bởi vì khi một khu vực hàng mấy huyện lớn không còn hội tề nữa thì tự nhiên cả hệ thống đồn bốt của địch bị trơ ra giữa vòng vây của nhân dân.

    Trên một vùng nông thôn rộng lớn của Bình Trị Thiên, sau chiến dịch đâu đâu cũng có chính quyền cách mạng, có dân quân du kích hoạt động, những đồn lẻ của địch bị tiêu diệt. Những cuộc hành quân của địch luôn bị chặn đánh bởi hoạt động của du kích tại chỗ. "Bình Trị Thiên khói lửa" sau một thời gian tạm lắng đã vươn lên hòa nhập với phong trào cả nước. Trong chiến công chung đó có sự đóng góp quan trọng, nếu không nói là quyết định của Nguyễn Chí Thanh. Sau sự việc này, Bác Hồ đã tặng Nguyễn Chí Thanh danh hiệu: "Vị tướng du kích".

    Giữa năm 1950, cuộc kháng chiến chống Pháp bước sang một giai đoạn mới, quân đội ta phát triển nhanh chóng và ngày càng lớn mạnh. Trong bối cảnh đó, Nguyễn Chí Thanh được Đảng giao cho một trọng trách mới. Anh được điều động vào quân đội và được bổ nhiệm giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Về Đảng anh được cử giữ chức Phó bí thư Quân ủy Trung ương.

    Năm 1951, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 2, Nguyễn Chí Thanh được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương và được Ban Chấp hành Trung ương bầu vào Bộ Chính trị.

    Với trọng trách đảm nhận công tác Đảng, công tác chính trị trong quân đội, Nguyễn Chí Thanh đã có đóng góp to lớn tạo nên sức mạnh của quân đội ta, liên tiếp đánh thắng địch trong nhiều chiến dịch lớn, kết thúc bằng chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử tháng 5/1954. Năm 1959, anh được phong hàm Đại tướng và đây là vị Đại tướng thứ hai của quân đội ta.

    Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 3 tháng 9/1960, Nguyễn Chí Thanh lại được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và được Ban Chấp hành Trung ương bầu vào Bộ Chính trị.

    Năm 1961, do yêu cầu của công cuộc hợp tác hóa nông nghiệp và đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, Nguyễn Chí Thanh được Trung ương Đảng giao cho phụ trách Ban Nông nghiệp Trung ương. Chỉ ít lâu sau, một phong trào thi đua mới trên mặt trận nông nghiệp nổi lên như sóng cồn. Đó là kết quả của mấy tháng liền Nguyễn Chí Thanh xuống xâm nhập cơ sở ở Hợp tác xã Đại Phong (xã Phong Thủy, huyện Lệ Thủy, Quảng Bình). Bài báo "Hoan nghênh Hợp tác xã Đại Phong" do anh viết đăng trên báo Đảng, trở thành một sự kiện trong đời sống chính trị của nhân dân miền Bắc lúc bấy giờ.

    nguyenchithanh2
    Bức ảnh được chụp năm 1960 hôm đại tướng Nguyễn Chí Thanh (người ngoài cùng bên phải) hôm về thăm HTX nông nghiệp Đại Phong (Phong Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình)- một điển hình về phong trào hợp tác hóa và sản xuất nông nghiệp.

    Con người của quần chúng

    Nói đến Nguyễn Chí Thanh là nói đến quần chúng, nói đến phong trào quần chúng. Hầu như anh sinh ra trên đời này là để sống với nhân dân. Là Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Nông nghiệp Trung ương nhưng hầu như Nguyễn Chí Thanh có mặt cả tháng liền với các hợp tác xã, và từ đó sinh ra gió "Đại Phong". Hồi còn là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị cũng vậy - Là Đại tướng nhưng Nguyễn Chí Thanh thường xuyên có mặt ở các đơn vị, gần gũi cán bộ, chiến sĩ và từ đó cờ "Ba Nhất" phất phới bay. Có thể nói Nguyễn Chí Thanh ở đâu là ở đó có phong trào quần chúng. Bởi anh tin tưởng sâu sắc vào sức mạnh của quần chúng. Anh thường nói, không có quần chúng thì không thể có thắng lợi của cách mạng. Anh cũng thường nói: "Cán bộ thế nào thì phong trào thế ấy", cán bộ phải lăn lộn, gắn bó với phong trào và chính anh là điển hình của một cán bộ như thế.

    29_daituong828-to
    Đại tướng Nguyễn Chí Thanh thăm lớp 5, trường Bắc Lý (Hà Nam).

    Có một giai thoại về vị "Đại tướng nông dân" này rất thú vị. Đó là vào năm 1951, khi Nguyễn Chí thanh vừa được bổ nhiệm chức vụ Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị chưa được bao lâu, anh cùng đơn vị đi Chiến dịch Hòa Bình. Trên đường hành quân ra trận, phải qua một con suối, ai cũng xắn quần lội qua. Có một anh cán bộ cấp đại đội hay tiểu đoàn gì đó đang loay hoay với đôi giày thì thấy một người trạc tuổi chưa đến 40, da ngăm đen, khỏe mạnh mặc bộ quần áo nâu bạc đi qua, anh cán bộ nghĩ chắc là một bác nông dân, liền gọi lại:

    - Ông chịu khó cõng mình qua suối một tí.

    "Người đó" không tỏ ra khó chịu mà vui vẻ nhận lời, ghé lưng vén quần cõng anh cán bộ qua suối.

    Sang đến bờ bên kia, anh cán bộ phấn khởi vỗ vai người đã giúp cõng mình qua suối, định nói lời cảm ơn. Nhưng bỗng thấy bác nông dân nghiêm mặt lại, nói giọng miền Trung nghiêm khắc:

    - Cậu có biết tớ là ai không?

    Anh cán bộ chưa kịp định thần vì câu hỏi bất ngờ thì được nghe người đó nói tiếp:

    - Tớ là Nguyễn Chí Thanh - Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Hôm nay tớ giúp cậu vì xét ra cậu cũng cần giúp nhưng nhớ lần sau đừng bắt người khác cõng như thế nữa nhé.

    Năm 1954, khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, anh cùng gia đình từ chiến khu trở về Hà Nội, cơ quan định bố trí cho anh một căn hộ ở bên hồ Trúc Bạch. Đó là một biệt thự đẹp, có mái nhọn cao vút, trang trí nội thất sang trọng. Nhưng anh đã từ chối và đề nghị bố trí cho mình một chỗ ở trong khu quân đội. Anh tâm sự với các đồng chí xung quanh: "Từ chiến tranh chuyển sang hòa bình, khó tránh  khỏi chớm nở trong bộ đội tư tưởng đòi hưởng thụ. Mình ở nhà sang quá thì khó gần gũi anh em, mà có khi muốn nói điều cần nói cũng khó lọt tai người nghe".

    index.
    Vợ chồng Đại tướng Nguyễn Chí Thanh

    Trung tướng Đoàn Chương, nguyên thư ký riêng cho anh Thanh nhiều năm, kể lại: Theo chế độ, chính sách, với cương vị cao là Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, gia đình anh được cơ quan trang bị thêm tủ, giường và một số đồ dùng khác. Nhưng anh bảo đem phân phối cho những anh em khác còn thiếu thốn. Trung tướng Đoàn Chương còn nói về chị Cúc, vợ anh bằng những lời lẽ tốt đẹp: "Là vợ một cán bộ lãnh đạo cao cấp, nhưng tuyệt nhiên chị không bao giờ cậy thế chồng để lên mặt "bà chủ" với anh em phục vụ. Điều đó một phần do bản chất đôn hậu của chị, một phần quan trọng là do thái độ của anh Thanh. Anh chúa ghét những thói ấy".

    Có một lần anh xuống dự đại hội đại biểu một tỉnh có nhiều hiện tượng cán bộ đảng viên tham ô, xâm phạm đến lợi ích của quần chúng. Kỳ giáp hạt năm ấy địa phương bị mất mùa, nhân dân thiếu ăn. Nhà nước đưa gạo về giúp, nhưng một số nơi cán bộ thiếu trách nhiệm, quản lý không chặt chẽ, để xảy ra nhiều hiện tượng tiêu cực rất đáng xấu hổ. Đối với những trường hợp như thế anh thường không giữ được bình tĩnh. Trên bục phát biểu khi nhắc đến hiện tượng này giọng anh như lạc hẳn đi:

    "Đảng viên gì? Cán bộ gì?; Dân đói, Nhà nước gửi về mấy tạ gạo, ba ông Chi ủy dấm dúi chia nhau mỗi người mấy chục cân, thì không bằng... con chó! Không thể nào để lại trong Đảng ta những con người thoái hóa đến mức ấy".

    Trung tướng Trần Quý Hai kể lại, hồi ở chiến khu Thừa Thiên, mặc dầu với cương vị Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, anh và gia đình vẫn sống hòa chung cuộc sống thiếu thốn, gian khổ với nhân dân. Có tháng cả nhà liên tục ăn sắn, nấu cháo bằng sắn, làm bánh bằng bột sắn. Có ai đem biếu một tí gạo, thức ăn, anh lại đem chuyển sang bệnh viện cho thương bệnh binh - Mẹ anh thương anh làm việc vất vả, người hốc hác nói với anh rằng đây là người ta thương anh người ta biếu anh chứ có phải của tham ô đâu, nhưng anh nói với mẹ: "Mẹ hãy hiểu cho con, con là cán bộ của Đảng, của dân thì không thể dân ăn khổ mà chỉ riêng con ăn ngon được".

    * Một số hình ảnh dâng hương tại Tượng đài Đại tướng Nguyễn Chí Thanh và Nhà Lưu niệm của Đại tướng ở Quảng Điền; Lớp Trung cấp Chính trị - Hành chính ngành Giáo dục khóa 9 (2010 - 2012) trường Trung cấp Chính trị Nguyễn Chí Thanh, ngày 31/3/2011 .

     555_500
     img_0137_500
     333_500_01
     img_0193_500
     img_0206_500
     img_0136_500
     img_0192_500
     img_0140_500
     img_0205_500

    ----------

    Nguồn : Tổng hợp từ các bài viết về Đại tướng Nguyễn Chí Thanh của Nguyên Chủ tịch nước, Đại tướng Lê Đức Anh ; Nguyệt Tú-Nguyệt Tinh, nhà thơ Hoàng Cầm và Bảo tàng Quân sự Việt Nam, Báo Công an Nhân dân
    Nguồn ảnh : Bảo tàng Quân sự Việt Nam và internet.


    Nhắn tin cho tác giả
    Hoàng Nhật Minh @ 10:10 06/07/2011
    Số lượt xem: 2312
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Cảm ơn quý vị và các bạn đã đến với website "Bác Hồ với Huế"
    www.bachovoihue.tk